
Tranh chấp thừa kế là một trong những loại án dân sự phổ biến, phức tạp, có những vụ án kéo dài, xét xử nhiều lần ở nhiều cấp Tòa án. Nguyên nhân vì đây là tranh chấp giữa những người thân thích có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng; di sản thừa kế thường là quyền sử dụng đất và nhà ở, là những tài sản có giá trị lớn, thiết yếu; và việc giải quyết tranh chấp này liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật như pháp luật về thừa kế, sở hữu, hôn nhân và gia đình, đất đai, nhà ở... và pháp luật khác có liên quan. Trong các vụ án tranh chấp thừa kế có rất nhiều vấn đề quan trọng cần phải xác định, đặc biệt là vấn đề thời điểm mở thừa kế và thời hiệu khởi kiện các vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế. Vấn đề này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định di sản của người chết để lại, xác định người được hưởng thừa kế, thời hiệu khởi kiện và pháp luật áp dụng để giải quyết tranh chấp. Video sau đây, Luật sư giỏi Sài Gòn sẽ gửi đến Quý anh chị và các bạn các quy định pháp luật về xác định thời điểm mở thừa kế và thời hiệu khởi kiện vụ án tranh chấp thừa kế. Mời quý anh chị và các bạn hãy cùng theo dõi theo dõi nhé!
Thời điểm mở thừa kế
Cách xác định thời điểm mở thừa kế:
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 611 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thì thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết
- Thời điểm người có tài sản chết: là ngày chết được ghi nhận trên giấy chứng tử hoặc giấy tờ thay thế giấy chứng tử.
- Thời điểm bị Tòa án tuyên bố chết: là ngày chết được Tòa án xác định trong bản án, quyết định tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật.

Ý nghĩa của việc xác định thời điểm mở thừa kế:
Việc xác định chính xác thời điểm mở thừa kế có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định quyền lợi, nghĩa vụ của người thừa kế cũng như các chủ thể liên quan. Cụ thể:
- Thời điểm mở thừa kế là mốc thời gian để xác định người thừa kế của người chết. Bởi vì theo quy định, người thừa kế nếu là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế; nếu người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế; nếu người thừa kế là cá nhân sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế thì phải đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.
- Xác định thời điểm có hiệu lực của di chúc (nếu người chết có để lại di chúc), theo quy định di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.
- Xác định khối di sản của người chết để lại. Chỉ những tài sản nào thuộc sở hữu của người đã chết hiện còn vào thời điểm mở thừa kế mới được coi là di sản của người chết để lại cho những người thừa kế.
- Xác định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế. Những người thừa kế có quyền thực hiện quyền của người thừa kế và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản trong phạm vi di sản do người chết để lại kể từ thời điểm mở thừa kế, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Xác định người quản lý di sản, quyền và nghĩa vụ của họ. Chỉ khi một người chết đi thì mới đặt ra yêu cầu xác định khối di sản để lại và phát sinh chủ thể “người quản lý di sản”. Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế và người quản lý di sản theo di chúc cũng chính thức có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
- Xác định thời hiệu thừa kế: thời điểm thừa kế là mốc thời gian quan trọng để xác định thời hiệu yêu cầu phân chia di sản thừa kế, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế, thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại.
- Xác định văn bản pháp luật áp dụng trong từng thời kỳ
Với những ý nghĩa trên, việc xác định thười điểm mở thừa kế là vô cùng quan trọng.
Thời hiệu khởi kiện phân chia di sản thừa kế
Thời hiệu khởi kiện phân chia di sản thừa kế là gì?
Theo quy định tại khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu. Tương tự, thời hiệu khởi kiện phân chia di sản thừa kế là thời hạn mà các chủ thể như người thừa kế được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án tranh chấp thừa kế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 149 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện theo yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án.
Trường hợp thời hiệu khởi kiện không còn nhưng không có đương sự nào yêu cầu áp dụng thời hiệu hoặc đưa ra yêu cầu không phù hợp quy định của pháp luật thì Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết vụ án.
Trường hợp đương sự yêu cầu áp dụng thời hiệu đúng quy định thì cần làm rõ thời hiệu để người thừa kế yêu cầu phân chia di sản thừa kế, thời điểm mở thừa kế và ngày khởi kiện để xác định còn thời hiệu khởi kiện hay đã hết.
Để xác định thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế cần nắm vững quy định về thời hiệu khởi kiện.
Quy định về thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế:
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản

- Đối với những trường hợp mở thừa kế từ ngày 01/01/2017 đến nay:
Hiện nay, theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
Trường hợp 1: Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản.
Trường hợp 2: Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu ở trường hợp 1.
Như vậy theo quy định trên thì đối với các di sản mà thời điểm mở thừa kế tính từ thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực (ngày 01/01/2017), thời hiệu khởi kiện yêu cầu phần chia di sản thừa kế là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản và thời hiệu này bắt đầu tính từ thời điểm mở thừa kế.
- Đối với những trường hợp mở thừa kế trước ngày 01/01/2017:
Căn cứ theo điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thì đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì “Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này”. Tuy nhiên, cần lưu ý quy định tại khoản 2 Điều 688 BLDS năm 2015: “Không áp dụng Bộ luật này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụ việc mà Tòa án đã giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự trước ngày Bộ luật này có hiệu lực”
Đồng thời, theo Mục I. Dân sự tại Giải đáp nghiệp vụ số 01/GĐ – TANDTC ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thì kể từ ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời hiệu thừa kế để thụ lý, giải quyết vụ án dân sự "Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Theo đó, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế.
Phối hợp với Án lệ số 26/2018/AL “về xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu và thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bất động sản” được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2018 quy định thì trường hợp người để lại di sản thừa kế là bất động sản chết trước ngày công bố Pháp lệnh Thừa kế ngày 30-8-1990 và tại thời điểm Tòa án xét xử sơ thẩm, Bộ luật Dân sự 2015 đang có hiệu lực pháp luật thì thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Như vậy, căn cứ các quy định và hướng dẫn trên thì đối với vụ việc đang được Tòa án thụ lý giải quyết mà có thời điểm mở thừa kế trước ngày 01/01/2017 thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản sẽ áp dụng theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản.
Với quy định mới về áp dụng thời hiệu khởi kiện trên, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã đưa ra các hướng dẫn về những trường hợp được khởi kiện lại các vụ án về tranh chấp thừa kế, cụ thể như sau:
Theo hướng dẫn tại khoản 4 Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì từ ngày 01/01/2017, Tòa án áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2015 và luật khác có liên quan về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu để thụ lý, giải quyết.
Khoản 3 Điều 7 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối hướng dẫn “các trường hợp khác theo quy định của pháp luật” được khởi kiện lại theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Theo hướng dẫn này thì:
(1) Đối với những vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản mà trước ngày 01/01/2017, Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện hoặc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì lý do “thời hiệu khởi kiện đã hết”, nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 623, điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS năm 2015 thời hiệu khởi kiện vụ án đó vẫn còn, thì người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án theo quy định.
(2) Đối với những vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản mà trước ngày 01/01/2017 đã được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định (trừ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vì thời hiệu khởi kiện đã hết) đã có hiệu lực pháp luật thì người khởi kiện không có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án đó.
(3) Đối với những vụ án dân sự chia tài sản chung là di sản thừa kế đã hết thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà trước ngày 01/01/2017 Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì chưa đủ điều kiện khởi kiện chia tài sản chung, nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 623, điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS năm 2015 thời hiệu khởi kiện vụ án chia thừa kế đối với di sản thừa kế đó vẫn còn, thì người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại để yêu cầu chia di sản thừa kế theo quy định. Trong trường hợp này, Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
(4) Đối với những vụ án dân sự chia tài sản chung là di sản thừa kế đã hết thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà trước ngày 01/01/2017 đã được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định (trừ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vì thời hiệu khởi kiện đã hết) đã có hiệu lực pháp luật thì người khởi kiện không có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án đó.
Một số quy định “kéo dài” thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế có thể kéo dài ra thêm bởi các quy định đặc biệt cho phép “kéo dài” thời gian khởi kiện như quy định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện, quy định thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện, quy định bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được quy định trong Bộ luật Dân sự, một số văn bản pháp luật khác và Án lệ.
Thứ nhất, quy định trường hợp đặc biệt về thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện phân chia di sản thừa kế:
Như trình bày ở trên, thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện về thừa kế là tính từ thời điểm mở thừa kế, tức là ngày người để lại di sản chết. Tuy nhiên riêng đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10/9/1990 (tức người thừa kế chết trước ngày 10/09/1990) và để lại bất động sản thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế, cụ thể: Thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế được tính từ công bố Pháp lệnh Thừa kế là ngày 10/9/1990.
Thứ hai, quy định thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện
Tại Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự, cụ thể như sau:
Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau đây:
1. Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện không thể khởi kiện trong phạm vi thời hiệu.
Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình;
2. Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chưa có người đại diện khác thay thế trong trường hợp sau đây:
- Người đại diện chết nếu là cá nhân, chấm dứt tồn tại nếu là pháp nhân;
- Người đại diện vì lý do chính đáng mà không thể tiếp tục đại diện được.
Theo đó nếu trong khoảng thời hạn được phép yêu cầu chia thừa kế mà xuất hiện một trong các sự kiện như trên thì khoảng thời gian này không tính vào thời hiệu khởi kiện.
Ngoài ra, còn khoảng thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện trong một số trường hợp đặc biệt cần lưu ý như sau:
- Trường hợp thừa kế mở trước ngày 01/7/1991 mà không có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia và di sản thừa kế là nhà ở: thì thời hiệu khởi kiện được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Theo đó thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999 (ngày Nghị quyết số 58/1998 có hiệu lực), không tính vào thời hiệu khởi kiện. Như vậy, thời hiệu khởi kiện phân chia di sản thừa kế trong trường hợp này được kéo dài thêm 2 năm 6 tháng.
- Trường hợp thừa kế mở trước ngày 01/7/1991 mà có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia và di sản thừa kế là nhà ở: thì thời hiệu khởi kiện được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 39 Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27/7/2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Theo đó, thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/9/2006 (ngày Nghị quyết số 1037/2006 có hiệu lực) sẽ không tính vào thời hiệu khởi kiện. Như vậy, thời hiệu khởi kiện phân chia di sản thừa kế trong trường hợp này được kéo dài thêm 10 năm 2 tháng.
Thứ ba, quy định bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự
Tại Điều 157 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, theo đó thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại trong trường hợp sau đây:
- Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
- Bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
- Các bên đã tự hòa giải với nhau.
Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra sự kiện này.
Như vậy, nếu trong vụ án tranh chấp thừa kế đã gần hết thời hiệu, mà có xảy ra các trường hợp như trên thời hiệu bắt đầu lại kể từ ngày tiếp theo sau ngày xảy ra các trường hợp trên.
Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật sư giỏi Sài Gòn về vấn đề thời điểm mở thừa kế và thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế theo quy định. Quý anh chị và các bạn có thắc mắc cần tư vấn cụ thể hơn, hãy liên hệ ngay với Luật sư giỏi Sài Gòn, chúng tôi luôn sẵn sàng hỗ trợ.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồng, soạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.
VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM
Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh
Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898
Website: luatsugioisaigon.com.vn







