Thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động thi hành án dân sự

98S Trần Đại Nghĩa, Phường Tân Tạo, TP. Hồ Chí Minh
0939 858 898
luatsucncvietnam@gmail.com
Thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động thi hành án dân sự
Ngày đăng: 24/03/2026

     

    Trường hợp cá nhân cho rằng việc người thi hành công vụ của cơ quan thi hành án dân sự được phân công thực hiện việc thi hành bản án, quyết định có hiệu lực của Tòa án mà việc thi hành án đó gây thiệt hại cho mình thì có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do việc thi hành án đó gây ra hay không? Nếu được thì điều kiện yêu cầu bồi thường là gì? Và hồ sơ, thủ tục ra sao? Để làm rõ vấn đề này, hãy theo dõi bài viết sau đây của chúng tôi nhé!

     

    1. Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra

     

    Theo quy định tại Điều 598 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước”.

     

    Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 cũng quy định tại khoản 1 Điều 5 thì người bị thiệt hại có quyền yêu cầu nhà nước bồi thường. Theo đó tại khoản 1 Điều 3 Luật này cũng quy định “Người bị thiệt hại là cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, thiệt hại về tinh thần do người thi hành công vụ gây ra thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định tại Luật này”.

     

    Như vậy, thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, nếu cho rằng người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật và gây ra thiệt hại cho mình trong quá trình thi hành án thì người bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường thiệt hại cho mình theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

     

    2. Điều kiện được bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra

     

     

    Căn cứ theo khoản 1 Điều 7 Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 quy định về Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, theo đó Nhà nước có trách nhiệm bồi thường khi có đủ các căn cứ sau đây:

     

    (1) Có một trong các căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng, cụ thể là:

    + Có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật này và có yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự giải quyết yêu cầu bồi thường;

    + Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính đã xác định có hành vi trái pháp luật của người bị kiện là người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và có yêu cầu bồi thường trước hoặc tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại;

    + Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự đã xác định có hành vi trái pháp luật của bị cáo là người thi hành công vụ gây thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự và có yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.

     

    (2) Có thiệt hại thực tế của người bị thiệt hại xảy ra.

     

    (3) Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại.

     

    3. Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự

     

    Tại Khoản 5 Điều 3 Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 quy định thì: “Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường là văn bản đã có hiệu lực pháp luật do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định, trong đó xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ hoặc là bản án, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định rõ người bị thiệt hại thuộc trường hợp được Nhà nước bồi thường.”

     

    Theo đó, Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 cũng liệt kê các văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự cụ thể tại Điều 12 như sau:

    (1) Bản án, quyết định của Tòa án có thẩm quyền xác định rõ hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ;

    (2) Quyết định giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự chấp nhận một phần hoặc toàn bộ nội dung khiếu nại của người khiếu nại;

    (3) Quyết định hủy, thu hồi, sửa đổi, bổ sung quyết định về thi hành án vì quyết định đó được ban hành trái pháp luật;

    (4) Quyết định xử lý hành vi vi phạm pháp luật của người thi hành công vụ bị tố cáo trên cơ sở kết luận nội dung tố cáo theo quy định của pháp luật về tố cáo;

    (5) Văn bản của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trả lời chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;

    (6) Quyết định xử lý kỷ luật người thi hành công vụ do có hành vi trái pháp luật;

    (7) Văn bản khác theo quy định của pháp luật đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 5 Điều 3 của Luật này.

     

    4. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự

    Trong hoạt động thi hành án dân sự, phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định tại Điều 21 Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017 được quy định như sau:

     

    Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau đây:

     

    (1) Ra hoặc không ra một trong các quyết định sau đây trái pháp luật:

    - Thi hành án;

    - Hủy, thu hồi, sửa đổi, bổ sung quyết định thi hành án;

    - Áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án;

    - Cưỡng chế thi hành án;

    - Hoãn thi hành án;

    - Tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án;

    - Tiếp tục thi hành án;

     

    (2) Tổ chức thi hành hoặc không tổ chức thi hành một trong các quyết định trên trái pháp luật.

     

    5. Xác định thiệt hại được bồi thường trong hoạt động thi hành án

     

    Thiệt hại được bồi thường là thiệt hại thực tế đã phát sinh, các khoản lãi và chi phí khác theo quy định tại Luật Trách nhiệm bồi thường của nhà nước năm 2017. Cụ thể như sau:

     

    (1) Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

    - Trường hợp tài sản đã bị phát mại, bị mất thì thiệt hại được xác định căn cứ vào giá thị trường của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tác dụng và mức độ hao mòn của tài sản trên thị trường tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật này. Thời điểm để xác định hiện trạng tài sản làm căn cứ tính mức bồi thường là thời điểm thiệt hại xảy ra.

    - Trường hợp tài sản bị hư hỏng thì thiệt hại được xác định là chi phí có liên quan theo giá thị trường tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật này để sửa chữa, khôi phục lại tài sản; nếu tài sản bị hư hỏng không thể sửa chữa, khôi phục thì thiệt hại được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều này.

    - Trường hợp có thiệt hại phát sinh do việc không sử dụng, khai thác tài sản thì thiệt hại được xác định là thu nhập thực tế bị mất. Đối với những tài sản trên thị trường có cho thuê, thu nhập thực tế bị mất được xác định phù hợp với mức giá thuê trung bình 01 tháng của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tiêu chuẩn kỹ thuật, tính năng, tác dụng và chất lượng tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật này; đối với những tài sản trên thị trường không có cho thuê, thu nhập thực tế bị mất được xác định trên cơ sở thu nhập trung bình của 03 tháng liền kề do tài sản bị thiệt hại mang lại trong điều kiện bình thường trước thời điểm thiệt hại xảy ra.

    -  Trường hợp các khoản tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các khoản tiền bị tịch thu, thi hành án, khoản tiền đã đặt để bảo đảm theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền thì phải hoàn trả các khoản tiền đó và khoản lãi cho người bị thiệt hại.

    - Trường hợp các khoản tiền đó là khoản vay có lãi thì khoản lãi được tính là khoản lãi vay hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự.

    Trường hợp các khoản tiền đó không phải là khoản vay có lãi thì khoản lãi được tính theo lãi suất phát sinh do chậm trả tiền trong trường hợp không có thỏa thuận theo quy định của Bộ luật Dân sự tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật này.

    - Trường hợp người bị thiệt hại không thể thực hiện được các giao dịch dân sự, kinh tế đã có hiệu lực và đã phải thanh toán tiền phạt do vi phạm nghĩa vụ trong giao dịch dân sự, kinh tế đó thì thiệt hại được xác định là số tiền phạt theo mức phạt đã thỏa thuận và khoản lãi của khoản tiền phạt đó.

    Trường hợp khoản tiền phạt đó là khoản vay có lãi thì khoản lãi được tính là khoản lãi vay hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự.

    Trường hợp khoản tiền phạt đó không phải là khoản vay có lãi thì khoản lãi được tính theo lãi suất phát sinh do chậm trả tiền trong trường hợp không có thỏa thuận theo quy định của Bộ luật Dân sự tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật này.

    - Trường hợp thiệt hại xảy ra do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết thì thiệt hại được bồi thường là phần thiệt hại do vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết.

    Ngoài ra, việc xác định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm còn được hướng dẫn bởi Điều 3, 4 Nghị định 68/2018/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2018.

     

    (2) Thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút

     

    - Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại là cá nhân được xác định như sau:

    + Thu nhập ổn định từ tiền lương, tiền công được xác định theo mức tiền lương, tiền công của người bị thiệt hại trong khoảng thời gian tiền lương, tiền công bị mất hoặc bị giảm sút;

    + Thu nhập không ổn định từ tiền lương, tiền công được xác định căn cứ vào mức tiền lương, tiền công trung bình của 03 tháng liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra trong khoảng thời gian tiền lương, tiền công bị mất hoặc bị giảm sút;

    + Thu nhập không ổn định theo mùa vụ được xác định là thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương trong khoảng thời gian thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút. Nếu không xác định được thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương thì thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút được bồi thường là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú cho 01 ngày bị thiệt hại.

    Ngày lương tối thiểu vùng được xác định là 01 tháng lương tối thiểu vùng do Nhà nước quy định chia cho 26 ngày.

    - Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại là tổ chức bao gồm các khoản thu nhập theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp.

    Thu nhập được bồi thường được xác định căn cứ vào thu nhập trung bình của 02 năm liền kề trước thời điểm xảy ra thiệt hại. Việc xác định thu nhập trung bình được căn cứ vào báo cáo tài chính của tổ chức theo quy định của pháp luật. Trường hợp tổ chức được thành lập chưa đủ 02 năm tính đến thời điểm xảy ra thiệt hại thì thu nhập được bồi thường được xác định trên cơ sở thu nhập trung bình trong thời gian hoạt động thực tế theo báo cáo tài chính của tổ chức đó theo quy định của pháp luật.

    Việc xác định thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút còn được hướng dẫn bởi Điều 5, 6, 7, 8, 9 Nghị định 68/2018/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2018.

     

    (3) Thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết

     

    Bao gồm các khoản như sau:

    - Chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh cho người bị thiệt hại trước khi chết.

    - Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho người bị thiệt hại trước khi chết được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho 01 ngày khám bệnh, chữa bệnh theo số ngày trong hồ sơ bệnh án.

    - Chi phí cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian khám bệnh, chữa bệnh trước khi chết được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho 01 ngày chăm sóc người bị thiệt hại.

    - Chi phí cho việc mai táng người bị thiệt hại chết được xác định theo mức trợ cấp mai táng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

    - Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được xác định là 01 tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người được cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc đã được xác định theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    Việc xác định thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết còn được hướng dẫn bởi Điều 10 Nghị định 68/2018/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2018.

     

    (4) Thiệt hại về vật chất do sức khỏe bị xâm phạm

     

    Bao gồm các khoản như sau:

    - Chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh cho người bị thiệt hại.

    - Chi phí bồi dưỡng sức khỏe cho người bị thiệt hại được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho 01 ngày khám bệnh, chữa bệnh theo số ngày trong hồ sơ bệnh án.

    - Chi phí cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian khám bệnh, chữa bệnh được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cho 01 ngày chăm sóc người bị thiệt hại.

    - Trường hợp người bị thiệt hại mất khả năng lao động và có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại được bồi thường bao gồm:

    + Chi phí cho người chăm sóc người bị thiệt hại được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại nơi người bị thiệt hại cư trú cho 01 ngày chăm sóc người bị thiệt hại;

    + Tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng được xác định là 01 tháng lương tối thiểu vùng tại nơi người được cấp dưỡng cư trú cho mỗi tháng thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc đã được xác định theo bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    Việc xác định thiệt hại về vật chất do do sức khỏe bị xâm phạm còn được hướng dẫn bởi Điều 10 Nghị định 68/2018/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2018.

     

    (5) Thiệt hại về tinh thần

     

    - Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp người bị thiệt hại chết được xác định là 360 tháng lương cơ sở.

    - Thiệt hại về tinh thần trong trường hợp sức khoẻ bị xâm phạm được xác định căn cứ vào mức độ sức khoẻ bị tổn hại nhưng không quá 50 tháng lương cơ sở.

    Ngày lương cơ sở được xác định là 01 tháng lương cơ sở chia cho 22 ngày.

     

    (6) Các chi phí khác được bồi thường

     

    Các chi phí hợp lý khác được bồi thường bao gồm:  Chi phí thuê phòng nghỉ, chi phí đi lại, in ấn tài liệu, gửi đơn thư trong quá trình khiếu nại, tố cáo; chi phí thuê người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại. Cụ thể được xác định như sau:

    - Chi phí thuê phòng nghỉ, chi phí đi lại, in ấn tài liệu được thanh toán theo hóa đơn, chứng từ hợp pháp với giá trị được xác định tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật này nhưng tối đa không quá mức quy định của Bộ Tài chính về chế độ công tác phí đối với cán bộ, công chức; chế độ chi tổ chức hội nghị đối với cơ quan nhà nước.

    Trường hợp người yêu cầu bồi thường không xuất trình được hóa đơn, chứng từ hợp pháp đối với các chi phí quy định tại điểm này thì chi phí được bồi thường không quá 06 tháng lương cơ sở tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật này cho 01 năm tính từ thời điểm bắt đầu khiếu nại hoặc tố cáo hoặc tham gia tố tụng cho đến ngày có văn bản giải quyết bồi thường có hiệu lực của cơ quan có thẩm quyền;

    - Chi phí gửi đơn thư đến cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền giải quyết được tính theo biên lai cước phí bưu chính với giá trị được xác định tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật này.

    Trường hợp người yêu cầu bồi thường không xuất trình được biên lai cước phí đối với các chi phí quy định tại điểm này thì chi phí được bồi thường không quá 01 tháng lương cơ sở tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật này cho 01 năm tính từ thời điểm bắt đầu khiếu nại hoặc tố cáo hoặc tham gia tố tụng cho đến ngày có văn bản giải quyết bồi thường có hiệu lực của cơ quan có thẩm quyền;

    - Chi phí thuê người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại được thanh toán theo hợp đồng thực tế nhưng không quá mức thù lao do Chính phủ quy định đối với luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng và chỉ thanh toán cho một người bào chữa hoặc một người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị thiệt hại tại một thời điểm.

    Khoảng thời gian làm căn cứ xác định chi phí được bồi thường quy định tại Điều này được tính từ ngày phát sinh thiệt hại thực tế cho đến ngày có văn bản giải quyết bồi thường có hiệu lực của cơ quan có thẩm quyền.

    Việc xác định các chi phí khác được bồi thường còn được hướng dẫn bởi Điều 12 Nghị định 68/2018/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/07/2018

     

    6. Thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra

     

    Thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra được quy định tại Điều 6 Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước năm 2017, theo đó:

    - Thời hiệu yêu cầu bồi thường là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu bồi thường nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 52 của Luật này và trường hợp yêu cầu phục hồi danh dự.

    - Thời hiệu yêu cầu bồi thường trong quá trình giải quyết vụ án hành chính được xác định theo thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính.

    Thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu bồi thường:

    - Khoảng thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự làm cho người có quyền yêu cầu bồi thường không thể thực hiện được quyền yêu cầu bồi thường;

    - Khoảng thời gian mà người bị thiệt hại là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi chưa có người đại diện theo quy định của pháp luật hoặc người đại diện đã chết hoặc không thể tiếp tục là người đại diện cho tới khi có người đại diện mới.

     

    7. Cơ quan giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động thi hành án?

     

    Cơ quan giải quyết bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự được quy định tại Điều 39 Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước năm 2017 như sau:

    (1) Cục Thi hành án dân sự và Chi cục Thi hành án dân sự (nay sau sáp nhập là Thi hành án Dân sự).

    (2) Cơ quan Thi hành án quân khu và tương đương.

    (3) Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự.

     

    Một số trường hợp cụ thể thì cơ quan giải quyết bồi thường được xác định như sau:

    - Trường hợp cơ quan giải quyết bồi thường là cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại thì việc xác định cơ quan giải quyết bồi thường trong một số trường hợp cụ thể được quy định như sau:

    + Trường hợp cơ quan giải quyết bồi thường đã được chia, tách, sáp nhập, hợp nhất hoặc bị giải thể thì cơ quan kế thừa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đó là cơ quan giải quyết bồi thường; trường hợp không có cơ quan nào kế thừa chức năng, nhiệm vụ của cơ quan đã bị giải thể thì cơ quan đã ra quyết định giải thể là cơ quan giải quyết bồi thường

    Ví dụ: Chi cục Thi hành án Dân sự là cơ quan thi hành án cấp huyện thì hiện nay sau ngày 01/07/2025 đã bị giải thể và cơ quan kế thừa chức năng nhiệm vụ của cơ quan này là  cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh, cụ thể Thi hành án dân sự. Theo đó, nếu người thi hành công vụ thuộc quản lý của Chi cục Thi hành án dân sự trước đây mà gây thiệt hại thì Thi hành án dân sự  là cơ quan giải quyết bồi thường.

    + Trường hợp có nhiều người thi hành công vụ thuộc nhiều cơ quan cùng gây thiệt hại thì cơ quan chủ trì thực hiện nhiệm vụ là cơ quan giải quyết bồi thường; trường hợp không có sự thống nhất về cơ quan giải quyết bồi thường thì cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước có thẩm quyền xác định cơ quan giải quyết bồi thường;

    + Trường hợp tại thời điểm thụ lý yêu cầu bồi thường mà người thi hành công vụ gây thiệt hại không còn làm việc tại cơ quan quản lý người đó tại thời điểm gây thiệt hại thì cơ quan giải quyết bồi thường là cơ quan quản lý người thi hành công vụ tại thời điểm gây thiệt hại;

    + Trường hợp có sự ủy quyền hoặc ủy thác thực hiện công vụ thì cơ quan ủy quyền hoặc cơ quan ủy thác là cơ quan giải quyết bồi thường; trường hợp cơ quan được ủy quyền, cơ quan nhận ủy thác là cơ quan nhà nước thực hiện không đúng nội dung ủy quyền, ủy thác gây thiệt hại thì cơ quan này là cơ quan giải quyết bồi thường.

    - Trường hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án thì Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ án là cơ quan giải quyết bồi thường.

    - Trường hợp người yêu cầu bồi thường đồng thời yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại và Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu bồi thường thì cơ quan đã thụ lý yêu cầu bồi thường trước là cơ quan giải quyết bồi thường.

     

    Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự về yêu cầu bồi thường:

    Tòa án có thẩm quyền giải quyết bồi thường được quy định tại Điều 53 Luật Trách nhiệm bồi thường nhà nước năm 2017 như sau:

    - Tòa án nhân dân khu vực nơi cư trú, làm việc của người yêu cầu bồi thường hoặc nơi đặt trụ sở của bị đơn theo lựa chọn của người yêu cầu bồi thường là Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm yêu cầu bồi thường trong trường hợp bị đơn là cơ quan thi hành án cấp huyện.

    - Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi cư trú, làm việc của người yêu cầu bồi thường hoặc nơi đặt trụ sở của cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại theo lựa chọn của người yêu cầu bồi thường là Tòa án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp quy định thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực.

     

    8. Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoat động thi hành án.

     

     

     

    TRƯỜNG HỢP 1: Yêu cầu bồi thường tại Cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại

     

    Hồ sơ yêu cầu bồi thường:

    -  Văn bản yêu cầu bồi thường theo Mẫu 01/BTNN ban hành kèm theo Thông tư 04/2018/TT-BTP (Mẫu này được sửa đổi bởi Khoản 2 Điều 12 Thông tư 08/2025/TT-BTP có hiệu lực từ ngày 01/07/2025)

    - Văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp người bị thiệt hại không được gửi hoặc không thể có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường;

    - Giấy tờ chứng minh nhân thân của người bị thiệt hại;

    - Tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường (nếu có).

     

    Ngoài ra, trường hợp người yêu cầu bồi thường là người thừa kế (nếu có nhiều người thừa kế thì những người thừa kế đó phải cử ra một người đại diện) hoặc là người đại diện của người bị thiệt hại thì ngoài các tài liệu trên, hồ sơ còn phải có các tài liệu sau đây:

    - Giấy tờ chứng minh nhân thân của người thừa kế, người đại diện của người bị thiệt hại;

    - Văn bản ủy quyền hợp pháp trong trường hợp đại diện theo ủy quyền;

    - Trường hợp người bị thiệt hại chết mà có di chúc thì người yêu cầu bồi thường phải cung cấp di chúc, trường hợp không có di chúc thì phải có văn bản hợp pháp về quyền thừa kế.

     

    Trình tự, thủ tục yêu cầu bồi thường:

     

    Bước 1: Nộp hồ sơ

    Người yêu cầu bồi thường nộp 01 bộ hồ sơ trực tiếp hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính tới cơ quan giải quyết bồi thường.

    Trường hợp chưa xác định ngay được cơ quan giải quyết bồi thường, người yêu cầu bồi thường nộp hồ sơ đến Sở Tư pháp nơi người bị thiệt hại cư trú hoặc có trụ sở. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, Sở Tư pháp có trách nhiệm xác định cơ quan giải quyết bồi thường, chuyển hồ sơ đến cơ quan giải quyết bồi thường và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường.

    Trường hợp người yêu cầu bồi thường trực tiếp nộp hồ sơ, ngoài đơn yêu cầu bồi thường phải nộp bản chính thì các giấy tờ, tài liệu và chứng cứ nộp kèm theo là bản sao nhưng phải có bản chính để đối chiếu; trường hợp người yêu cầu bồi thường gửi hồ sơ qua dịch vụ bưu chính thì các giấy tờ, tài liệu và chứng cứ là bản sao có chứng thực theo quy định của pháp luật về chứng thực.

     

    Bước 2: Cơ quan giải quyết bồi thường tiếp nhận và xử lý hồ sơ

    Trường hợp  nộp hồ sơ trực tiếp: Cơ quan giải quyết bồi thường tiếp nhận hồ sơ, ghi vào sổ nhận hồ sơ và cấp giấy xác nhận đã nhận hồ sơ cho người yêu cầu bồi thường.

    Trường hợp hồ sơ được gửi qua dịch vụ bưu chính: Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, cơ quan giải quyết bồi thường phải thông báo bằng văn bản về việc nhận hồ sơ cho người yêu cầu bồi thường.

    Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ, Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường thực hiện các việc sau đây:

    + Yêu cầu người yêu cầu bồi thường bổ sung hồ sơ trong trường hợp hồ sơ chưa đầy đủ theo quy định;

    + Yêu cầu cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền cung cấp văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong trường hợp người yêu cầu bồi thường đề nghị cơ quan giải quyết bồi thường thu thập văn bản đó hoặc làm rõ nội dung văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường trong trường hợp nội dung của văn bản đó không rõ ràng.

    Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu của Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường, người yêu cầu bồi thường phải bổ sung hồ sơ, cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền phải cung cấp văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường hoặc làm rõ nội dung văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường. Khoảng thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự không tính vào thời hạn quy định tại khoản này.

     

    Bước 3: Cơ quan giải quyết bồi thường thụ lý hồ sơ và cử người giải quyết bồi thường

    - Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ theo quy định, cơ quan giải quyết bồi thường phải thụ lý hồ sơ và vào sổ thụ lý, trừ các trường hợp Cơ quan giải quyết bồi thường không thụ lý hồ sơ khi có một trong các căn cứ sau đây:

    + Yêu cầu bồi thường không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình;

    + Thời hiệu yêu cầu bồi thường đã hết;

    + Yêu cầu bồi thường không thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước;

    + Người yêu cầu bồi thường không phải là người có quyền yêu cầu bồi thường;

    +  Hồ sơ không đầy đủ theo quy định mà người yêu cầu bồi thường không bổ sung trong thời hạn quy định;

    + Yêu cầu bồi thường đã được thực hiện tại Tòa án và đã được Tòa án có thẩm quyền thụ lý theo thủ tục tố tụng dân sự;

    + Yêu cầu bồi thường đã được Tòa án có thẩm quyền chấp nhận khi giải quyết vụ án hình sự, vụ án hành chính có nội dung yêu cầu bồi thường được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự, tố tụng hành chính.

    + Yêu cầu bồi thường đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

    - Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý hồ sơ, cơ quan giải quyết bồi thường phải cử người giải quyết bồi thường.

    Người giải quyết bồi thường là người có kinh nghiệm về chuyên môn, nghiệp vụ trong ngành, lĩnh vực phát sinh yêu cầu bồi thường; không được là người có quyền và lợi ích liên quan đến vụ việc hoặc là người thân thích theo quy định của Bộ luật Dân sự của người thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc của người bị thiệt hại.

    - Việc thụ lý hồ sơ, không thụ lý hồ sơ và cử người giải quyết bồi thường phải được thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu bồi thường và cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước. Trường hợp không thụ lý hồ sơ thì phải trả lại hồ sơ và nêu rõ lý do; đối với trường hợp cơ quan giải quyết bồi thường không thụ lý hồ sơ do yêu cầu bồi thường không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì phải hướng dẫn người yêu cầu bồi thường đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

    - Trường hợp đã thụ lý hồ sơ mà có một trong các căn cứ không được thụ lý hồ sơ thì cơ quan giải quyết bồi thường dừng việc giải quyết, xóa tên vụ việc trong sổ thụ lý và trả lại hồ sơ cho người yêu cầu bồi thường.

     

    Bước 4:  Xác minh thiệt hại

    Người giải quyết bồi thường có trách nhiệm thực hiện việc xác minh các thiệt hại được yêu cầu trong hồ sơ. Trong trường hợp cần thiết, người giải quyết bồi thường có thể yêu cầu người yêu cầu bồi thường, cá nhân, tổ chức khác có liên quan cung cấp tài liệu, chứng cứ làm cơ sở cho việc xác minh thiệt hại, đề nghị định giá tài sản, giám định thiệt hại hoặc lấy ý kiến của cá nhân, tổ chức có liên quan về thiệt hại, mức bồi thường.

    Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày thụ lý hồ sơ, người giải quyết bồi thường phải hoàn thành việc xác minh thiệt hại. Trường hợp vụ việc giải quyết yêu cầu bồi thường có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn xác minh thiệt hại là 30 ngày kể từ ngày thụ lý hồ sơ.

    Thời hạn xác minh thiệt hại có thể được kéo dài theo thỏa thuận giữa người yêu cầu bồi thường và người giải quyết bồi thường nhưng tối đa là 15 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản này.

    Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày kết thúc việc xác minh thiệt hại, người giải quyết bồi thường phải hoàn thành báo cáo xác minh thiệt hại làm căn cứ để thương lượng việc bồi thường.

    Trong trường hợp vụ việc phức tạp, cơ quan giải quyết bồi thường có thể đề nghị đại diện cơ quan quản lý nhà nước về công tác bồi thường nhà nước, cơ quan tài chính có thẩm quyền tham gia vào việc xác minh thiệt hại.

     

    Bước 5: Thương lượng việc bồi thường

    Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành báo cáo xác minh thiệt hại, cơ quan giải quyết bồi thường phải tiến hành thương lượng việc bồi thường. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày tiến hành thương lượng, việc thương lượng phải được hoàn thành. Trường hợp vụ việc giải quyết yêu cầu bồi thường có nhiều tình tiết phức tạp thì thời hạn thương lượng tối đa là 15 ngày.

    Thời hạn thương lượng có thể được kéo dài theo thỏa thuận giữa người yêu cầu bồi thường và người giải quyết bồi thường nhưng tối đa là 10 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản này.

    Việc thương lượng được thực hiện tại một trong các địa điểm sau đây:

    - Trường hợp người yêu cầu bồi thường là cá nhân thì địa điểm thương lượng là trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người yêu cầu bồi thường cư trú, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác;

    - Trường hợp người yêu cầu bồi thường là tổ chức thì địa điểm thương lượng là trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi đặt trụ sở của tổ chức đó, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

     

    Bước 6: Ra quyết định giải quyết bồi thường

    Trường hợp thương lượng thành: Ngay sau khi có biên bản kết quả thương lượng thành, Thủ trưởng cơ quan giải quyết bồi thường ra quyết định giải quyết bồi thường và trao cho người yêu cầu bồi thường tại buổi thương lượng.

    Trường hợp người yêu cầu bồi thường không nhận quyết định giải quyết bồi thường thì người giải quyết bồi thường lập biên bản về việc không nhận quyết định. Biên bản phải có chữ ký của đại diện các cơ quan tham gia thương lượng. Biên bản phải nêu rõ hậu quả pháp lý của việc không nhận quyết định giải quyết bồi thường theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 51 của Luật này. Cơ quan giải quyết bồi thường phải gửi cho người yêu cầu bồi thường trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày lập biên bản.

    Quyết định giải quyết bồi thường có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày trao cho người yêu cầu bồi thường

    Trường hợp thương lượng không thành: người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường

     

     

    TRƯỜNG HỢP 2: Khởi kiện yêu cầu bồi thường tại Tòa án

     

    Căn cứ theo quy định tại Điều 52 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 về khởi kiện và thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Toà án như sau:

     

    - Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày nhận được văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, người yêu cầu bồi thường có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường trong các trường hợp sau đây:

    + Người yêu cầu bồi thường chưa yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại giải quyết yêu cầu bồi thường;

    + Người yêu cầu bồi thường rút yêu cầu bồi thường

     

    - Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết bồi thường mà người yêu cầu bồi thường không đồng ý với quyết định đó hoặc kể từ ngày có biên bản kết quả thương lượng thành mà cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại không ra quyết định giải quyết bồi thường hoặc kể từ ngày có biên bản kết quả thương lượng không thành thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường.

     

    Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Tòa án được thực hiện theo quy định tại Mục 2 Chương V Luật Trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhà nước, trường hợp Mục này không quy định thì áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

     

    Cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại đại diện Nhà nước tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn.

     

    Theo đó, hồ sơ, trình tự thủ tục khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại tại Tòa án được thực hiện theo trình tự, thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.

     

    Hồ sơ khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra bao gồm:

    - Đơn khởi kiện theo Mẫu số 23-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP;

    - Giấy tờ chứng minh nhân thân của người khởi kiện;

    - Tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc yêu cầu bồi thường, bao gồm văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp người bị thiệt hại không được gửi hoặc không thể có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường và các tài liệu liên quan đến thiệt hại xảy ra; các tài liệu, chứng cứ liên quan đến thiệt hại;....

     

    Người thi hành công vụ gây ra thiệt hại thì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại. Theo đó, yêu cầu nhà nước phải bồi thường là quyền hợp pháp của người dân khi có đủ điều kiện theo quy định tại Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017. Trường hợp Quý khách hàng cần tư vấn, hỗ trợ các vấn đề liên quan đến xác định điều kiện bồi thường, chuẩn bị hồ sơ, đại diện hoặc đồng hành tham gia giải quyết yêu cầu bồi thường tại cơ quan nhà nước hoặc khởi kiện tại Tòa án nếu cần thiết, hãy liên hệ ngay với Luật sư giỏi Sài Gòn để được tư vấn, hỗ trợ nhanh chóng nhé.

     

     

     

     

    THÔNG TIN LIÊN HỆ

    Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồngsoạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.

     

    VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM

    Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

    Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898

    Website: luatsugioisaigon.com.vn

    Danh mục bài viết

    Bài viết mới