Sau khi bản án đã có hiệu lực, đương sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án không?

98S Trần Đại Nghĩa, Phường Tân Tạo, TP. Hồ Chí Minh
0939 858 898
luatsucncvietnam@gmail.com
Sau khi bản án đã có hiệu lực, đương sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án không?
Ngày đăng: 28/05/2026

     

    Gần đây Luật sư giỏi Sài Gòn nhận được một số câu hỏi liên quan đến việc: “Khi bản án đã có hiệu lực pháp luật thì các đương sự có quyền tiếp tục thỏa thuận về việc thi hành án không? Và việc tự thỏa thuận này có thể tự thực hiện hay bắt buộc phải thông qua cơ quan thi hành án?" Để giải đáp vấn đề này kính mời Quý cô chú, anh chị và các bạn theo dõi bài viết dưới đây của Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nhé ạ.

     

    Quyền thỏa thuận thi hành án?

     

    Thỏa thuận thi hành án được hiểu là sự tự nguyện của các đương sự nhằm bày tỏ ý kiến, nguyện vọng, trao đổi để đi đến thống nhất thi hành án một phần hay toàn bộ nội dung bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật trên cơ sở quyền và nghĩa vụ dân sự đã được xác lập theo bản án, quyết định đó.

     

    Chủ thể tham gia thỏa thuận về thi hành án là đương sự trong vụ án: bao gồm người được thi hành án và người phải thi hành án. Trên thực tế, tùy từng vụ việc cụ thể có thể bao gồm cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia thỏa thuận thi hành án.

     

    Việc thỏa thuận thi hành án được quy định tại Điều 6 Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung) như sau:

     

    Thoả thuận thi hành án

    1. Đương sự có quyền thoả thuận về việc thi hành án, nếu thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Kết quả thi hành án theo thoả thuận được công nhận.

    Theo yêu cầu của đương sự, Chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến việc thoả thuận về thi hành án.

    2. Trường hợp đương sự không thực hiện đúng thoả thuận thì có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự thi hành phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.

     

    Như vậy, pháp luật hiện hành cho phép đương sự được quyền thỏa thuận thi hành án nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.

     

     

    Thời điểm thỏa thuận thi hành án

     

    Việc thỏa thuận thi hành án có thể ở bất kỳ thời điểm nào, có thể thỏa thuận trước khi yêu cầu thi hành án hoặc đã yêu cầu nhưng cơ quan Thi hành án dân sự chưa ra quyết định thi hành án hoặc cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành án.

     

    Như vậy, nếu ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mà bên phải thi hành án chủ động thực hiện nghĩa vụ với bên được thi hành án thì có thể tự thỏa thuận với nhau, bên được thi hành án không cần phải làm đơn yêu cầu ra cơ quan thi hành án để giải quyết. Trường hợp muốn chấp hành viên chứng kiến thỏa thuận thì có thể làm đơn đề nghị đến cơ quan thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật Thi hành án nêu trên.

     

    Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 5 Nghị định 62/2015/NĐ-CP (được sửa đổi bởi khoản 3 Điều 1 Nghị định 33/2020/NĐ-CP) quy định về thỏa thuận thi hành án dân sự như sau:

     

    Thỏa thuận thi hành án

    ...

    2. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án, đương sự vẫn có quyền tự thỏa thuận thi hành án. Thỏa thuận phải bằng văn bản thể hiện rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, thời hạn thực hiện thỏa thuận, hậu quả pháp lý đối với việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia. Đương sự phải chịu trách nhiệm về nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án.

    Trường hợp các bên không tự nguyện thực hiện theo đúng nội dung đã thỏa thuận thì cơ quan thi hành án dân sự căn cứ nội dung quyết định thi hành án và kết quả đã thi hành theo thỏa thuận, đề nghị của đương sự để tổ chức thi hành, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.

    3. Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành án mà đương sự thỏa thuận về việc không yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự tiếp tục thi hành một phần hoặc toàn bộ quyết định thi hành án thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định đình chỉ thi hành án đối với nội dung thỏa thuận đó theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Thi hành án dân sự.

    Trường hợp đương sự thỏa thuận đình chỉ thi hành án sau thời điểm tài sản đã được bán đấu giá thành hoặc đã bán cho đồng sở hữu hoặc người được thi hành án đã đồng ý nhận tài sản để trừ vào tiền thi hành án mà chưa giao được tài sản cho họ thì việc thỏa thuận phải được sự đồng ý của người trúng đấu giá, người mua tài sản hoặc người nhận tài sản.

    Sau khi có quyết định đình chỉ thi hành án của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, đương sự không có quyền yêu cầu thi hành án trở lại đối với nội dung đã đình chỉ thi hành.

    4. Khi đương sự có yêu cầu, Chấp hành viên có trách nhiệm chứng kiến và ký tên vào văn bản thỏa thuận trong trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3 của Điều này. Việc chứng kiến thỏa thuận phải được thực hiện tại trụ sở cơ quan thi hành án dân sự. Trường hợp phát hiện thỏa thuận vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án thì Chấp hành viên từ chối chứng kiến thỏa thuận nhưng phải nêu rõ lý do từ chối vào biên bản thỏa thuận.

     

    Như vậy, theo quy định nêu trên, trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án, đương sự vẫn có quyền tự thỏa thuận thi hành án.

     

    Đương sự phải chịu trách nhiệm về nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội, không đúng với thực tế, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba hoặc nhằm trốn tránh phí thi hành án.

     

    Tóm lại:

    • Trường hợp đương sự lập thỏa thuận thi hành án trước khi yêu cầu thi hành án hoặc đã yêu cầu nhưng cơ quan Thi hành án dân sự chưa ra quyết định thi hành án, thì các bên có nghĩa vụ thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận. Trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ đã thỏa thuận mà thời hiệu yêu cầu thi hành án vẫn còn thì bên có quyền được yêu cầu thi hành án đối với phần nghĩa vụ chưa được thi hành theo nội dung bản án, quyết định.
    • Trường hợp cơ quan Thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án, đương sự vẫn có quyền tự thỏa thuận. Trường hợp bên có nghĩa vụ không tự nguyện thực hiện đúng nội dung đã thỏa thuận thì người được thi hành án thông báo kết quả đã thi hành theo thỏa thuận và đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự tiếp tục tổ chức thi hành án.
    • Trường hợp cơ quan Thi hành án dân sự đang tổ chức thi hành án và việc thỏa thuận thi hành án được thực hiện sau khi tài sản đã được bán hoặc giao cho người khác nhận để thi hành án thì phải được sự đồng ý của người mua được tài sản hoặc người nhận tài sản để thi hành án.

     

    Hình thức thỏa thuận:

    Thỏa thuận phải bằng văn bản thể hiện rõ thời gian, địa điểm, nội dung thỏa thuận, thời hạn thực hiện thỏa thuận, hậu quả pháp lý đối với việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung đã thỏa thuận, có chữ ký hoặc điểm chỉ của các bên tham gia.

     

    Nghĩa vụ nộp phí thi hành án khi các bên thực hiện thỏa thuận thi hành án

     

     

    Phí thi hành án là khoản tiền mà người được thi hành án phải nộp khi nhận được tiền, tài sản theo bản án, quyết định. Theo khoản 3, 4, 5 Điều 4 Thông tư 216/2016/TT-BTC quy định thì:

    • Nếu các đương sự có thỏa thuận thi hành án và đã tự giao, nhận tiền, tài sản cho nhau trong trong thời hạn tự nguyện thi hành án thì người được thi hành án không phải chịu phí thi hành án.
    • Đối với trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án nhưng chưa ra quyết định cưỡng chế thi hành án hoặc đã ra quyết định cưỡng chế thi hành án nhưng chưa thực hiện việc cưỡng chế thi hành án mà các bên đương sự thỏa thuận việc thi hành án, tự giao, nhận tiền, tài sản cho nhau thì người được thi hành án phải nộp 1/3 mức phí thi hành án dân sự theo quy định tại tính trên số tiền, tài sản thực nhận.
    • Trường hợp cơ quan thi hành án dân sự đã thu được tiền hoặc đã thực hiện việc cưỡng chế thi hành án thì người được thi hành án phải nộp 100% mức phí thi hành án dân sự theo quy định tính trên số tiền, tài sản thực nhận.

     

    Trên đây là quy định pháp luật về chủ đề quyền tự thỏa thuận thi hành án của các đương sự. Quý anh chị và các bạn cần tư vấn, hỗ trợ các vấn đề, thủ tục pháp lý liên quan đến thi hành án, hãy liên hệ ngay với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh để được hỗ trợ một cách nhanh chóng, tậm tâm và hiệu quả nhé!

     

     

     

    THÔNG TIN LIÊN HỆ

    Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồngsoạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.

     

    VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM

    Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

    Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898

    Website: luatsugioisaigon.com.vn 

    Danh mục bài viết

    Bài viết mới