Rút tiền mặt hoặc đáo hạn thẻ tín dụng qua máy POS: Giao dịch không được pháp luật thừa nhận

98S Trần Đại Nghĩa, Phường Tân Tạo, TP. Hồ Chí Minh
0939 858 898
luatsucncvietnam@gmail.com
Rút tiền mặt hoặc đáo hạn thẻ tín dụng qua máy POS: Giao dịch không được pháp luật thừa nhận
Ngày đăng: 31/03/2026

     

    Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ. Hiểu đơn giản, khách hàng sẽ được cho vay tiền trong hạn mức tín dụng này để chi tiêu trước, sau đó thanh toán lại cho ngân hàng toàn bộ khoản vay hoặc trả góp hàng tháng. Thẻ tín dụng cũng cho phép chủ thẻ được rút tiền mặt để sử dụng.

     

    Nếu không thanh toán toàn bộ khoản vay (trả góp) trong khoảng thời gian nhất định, khách hàng sẽ phải trả thêm lãi, đồng thời có thể bị ghi lịch sử nợ xấu trên Trung tâm tín dụng CIC gây ảnh hưởng đến các khoản vay sau này.

    Hiện nay, dịch vụ rút tiền mặt từ thẻ tín dụng và đáo hạn thẻ tín dụng qua máy POS (Point of Sale) đang rất phổ biến.

     

    Máy POS được cài đặt và sử dụng tại các đơn vị chấp nhận thẻ (như cửa hàng, công ty,...) chỉ có thể sử dụng với mục đích để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ cho chủ thẻ chứ không được rút tiền mặt hay đáo hạn thẻ tín dụng. Tuy nhiên, một số nơi lợi dụng việc cho rút tiền mặt này để quẹt thẻ tín dụng lấy tiền mặt, đáo hạn thẻ tín dụng và thu phí mà không nhằm mục đích thanh toán. Hành vi này pháp luật quy định như thế nào và có được phép hay không? Theo dõi bài viết sau đây của Luật sư giỏi Sài Gòn để tìm hiểu về vấn đề này nhé!

     

     

    Rút tiền mặt từ thẻ tín dụng qua máy POS là gì? Có vi phạm pháp luật hay không?

     

    Hiện nay, cách để chủ thẻ có thể rút tiền từ thẻ tín dụng là rút tại các cây ATM của ngân hàng. Ngoài cách này, thì hiện có dịch vụ rút tiền từ thẻ tín dụng qua máy POS, chủ thể có thể rút được 100% hạn mức tín dụng được cấp.

     

    Điều đáng nói, phí ứng tiền mặt khi rút qua cây ATM của các ngân hàng thường khá cao, dao động trên dưới 4%, còn phí rút tiền mặt qua máy POS dao động từ 1,2% - 1,6%. Do vậy, rút tiền từ thẻ tín dụng qua máy POS đang là phương pháp được nhiều người thực hiện.

     

    Tuy nhiên, theo quy định thì giao dịch tại máy POS là một phương thức thanh toán cho giao dịch mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ của đơn vị chấp nhận thanh toán thẻ.

     

    Theo đó, quẹt thẻ tại máy POS để lấy tiền mặt là một hình thức giao dịch trong đó chủ thẻ tín dụng sử dụng máy POS tại các điểm chấp nhận thẻ để rút tiền mặt thay vì thực hiện thanh toán cho hàng hóa hoặc dịch vụ. Về bản chất, đây là một giao dịch “khống”, nghĩa là không có hoạt động mua bán thực sự diễn ra. Chủ thẻ tín dụng và đơn vị chấp nhận thẻ (thường là cửa hàng hoặc doanh nghiệp) thỏa thuận để quẹt thẻ như một giao dịch thanh toán thông thường, sau đó đơn vị chấp nhận thẻ sẽ trả lại tiền mặt cho chủ thẻ, trừ đi một khoản phí dịch vụ.

     

    Hình thức quẹt thẻ POS diễn ra với quy trình cơ bản như sau:

    - Chủ thẻ cần có thẻ tín dụng với hạn mức tín dụng còn lại đủ để thực hiện giao dịch.

    - Chủ thẻ và đơn vị chấp nhận thẻ (cửa hàng, doanh nghiệp) thỏa thuận về số tiền cần rút và mức phí dịch vụ (thường từ 1,5% đến 3% số tiền rút).

    - Chủ thẻ quẹt thẻ tín dụng qua máy POS của đơn vị chấp nhận thẻ như một giao dịch thanh toán thông thường (mua bán hàng hóa, dịch vụ)

    - Thay vì nhận hàng hóa hoặc dịch vụ, đơn vị chấp nhận thẻ sẽ trả lại tiền mặt cho chủ thẻ sau khi trừ phí dịch vụ.

    Ví dụ: Ông A có thẻ tín dụng và cần rút tiền mặt 100 triệu đồng, cửa hàng B sử dụng máy POS để rút tiền mặt cho ông A với mức phí 2%, tức ông A sẽ nhận lại 98 triệu đồng tiền mặt.

     

    Hình thức này thường được sử dụng để tận dụng hạn mức tín dụng tối đa của thẻ (lên đến 100%), thay vì chỉ rút được tối đa 50% hạn mức như khi rút tiền mặt tại ATM.

     

    Theo quy định, máy POS chỉ được phép sử dụng cho mục đích thanh toán hàng hóa và dịch vụ, không phải để rút tiền mặt. Do đó, hình thức quẹt thẻ tín dụng qua máy POS để lấy tiền mặt là giao dịch khống, thực chất không phải là giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ, nên đây là giao dịch vi phạm pháp luật.

     

    Đáo hạn thẻ tín dụng qua máy POS là gì? Có vi phạm pháp luật hay không?

     

    Đáo hạn thẻ tín dụng là dịch vụ chủ thẻ vay tiền để trả dư nợ thẻ tín dụng từ bên thứ ba khi đến hạn thanh toán thẻ tín dụng mà chưa đủ khả năng tài chính. Các đơn vị cung cấp dịch vụ sẽ nạp tiền vào tài khoản để thanh toán dư nợ tín dụng cho khách hàng. Sau đó, đơn vị đó sẽ tiếp tục quẹt thẻ qua máy POS để lấy lại khoản tiền mới nộp vào ngay sau khi ngân hàng cấp lại hạn mức tín dụng cho chủ thẻ ở kỳ sao kê tiếp theo và chủ thẻ sẽ phải trả lãi suất, phí dịch vụ cho khoản vay này.Việc thu nợ được thực hiện dưới hình thức mua hàng hóa (nhưng thực chất không mua hàng). Như vậy, về bản chất của dịch vụ đáo hạn thẻ tín dụng là dùng chính tiền của Ngân hàng để trả dư nợ đang phát sinh tại Ngân hàng. Chủ thẻ dùng khoản tiền vay sau để trả nợ cho khoản vay trước đó.

     

    Đáo hạn thẻ tín dụng như trên là một hình thức vay nóng, được thực hiện bởi các cá nhân, tổ chức không chính thống. Việc rút tiền sau khi được cấp lại hạn mức là cung cấp hóa đơn dịch vụ khống cho ngân hàng, bởi khách hàng không mua hàng hóa hay dịch vụ mà chỉ sử dụng dịch vụ rút tiền mặt. Và như đã trình bày ở phần trên, máy POS chỉ được sử dụng với mục đích là để thực hiện thanh toán cho hàng hóa hoặc dịch vụ. Do đó, đáo hạn thẻ tín dụng qua máy POS là những giao dịch không hợp lệ và vi phạm các quy định, chính sách về hóa đơn thuế hiện hành của Nhà nước.

     

     

    Trách nhiệm pháp lý phải đối mặt khi thực hiện hành vi rút tiền mặt hoặc đáo hạn thẻ tín dụng qua máy POS

     

    Việc rút tiền mặt hoặc đáo hạn thẻ tín dụng qua máy POS là hành vi tham gia và thực hiện các giao dịch khống. Hành vi này có thể dẫn đến các vấn đề pháp lý như bị xử phạt vi phạm hành chính và nghiêm trọng hơn là có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể như sau:

     

    Tại Điều 32 Nghị định 340/2025/NĐ-CP quy định về Vi phạm quy định về máy giao dịch tự động và hoạt động thẻ ngân hàng như sau:

     

    Điều 32. Vi phạm quy định về máy giao dịch tự động và hoạt động thẻ ngân hàng

    7. Phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

    ...

    c) Thực hiện, tổ chức thực hiện hoặc tạo điều kiện thực hiện các hành vi: sử dụng, lợi dụng thẻ ngân hàng để đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gian lận, lừa đảo, kinh doanh trái pháp luật và thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật khác; giao dịch thanh toán khống tại đơn vị chấp nhận thẻ (không phát sinh việc mua bán, cung ứng hàng hóa và cung ứng dịch vụ);

    ...

    8. Hình thức xử phạt bổ sung:

    Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện các hành vi quy định tại điểm c khoản 5, điểm a khoản 6, các điểm a, c khoản 7 Điều này.

    9. Biện pháp khắc phục hậu quả:

    a) Buộc nộp vào ngân sách nhà nước số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm c khoản 5; điểm a khoản 6 và khoản 7 Điều này;

    ...”

     

    Như vậy, người nào thực hiện hành vi quẹt thẻ tín dụng qua máy POS để rút tiền mặt hoặc đáo hạn thẻ tín dụng thì đây là hành vi giao dịch thanh toán khống tại đơn vị chấp nhận thẻ. Người thực hiện hành vi này là chủ thể và đơn vị chấp nhận thẻ (công ty, cửa hàng,...) sẽ bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng, bị tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện và buộc nộp vào ngân sách nhà nước số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm.

     

    Ngoài ra, các hành vi này có dấu hiệu của tội "Tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng" theo quy định tại Điều 206 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017, tội danh có khung hình phạt cao nhất tới 20 năm tù.

     

    Điều 206. Tội vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng

    1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây gây thiệt hại cho người khác về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 300.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

    a) Cấp tín dụng cho trường hợp không được cấp tín dụng, trừ trường hợp cấp dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng;

    b) Cấp tín dụng không có bảo đảm hoặc cấp tín dụng với điều kiện ưu đãi cho đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định của pháp luật;

    c) Vi phạm quy định về tỷ lệ bảo đảm an toàn cho hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng;

    d) Cố ý nâng khống giá trị tài sản bảo đảm khi thẩm định giá để cấp tín dụng đối với trường hợp phải có tài sản bảo đảm;

    đ) Vi phạm quy định của pháp luật về tổng mức dư nợ cấp tín dụng đối với đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng;

    e) Cấp tín dụng vượt giới hạn so với vốn tự có đối với một khách hàng và người có liên quan, trừ trường hợp có chấp thuận của người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

    g) Vi phạm quy định của pháp luật về góp vốn, giới hạn góp vốn, mua cổ phần, điều kiện cấp tín dụng;

    h) Phát hành, cung ứng, sử dụng phương tiện thanh toán không hợp pháp; làm giả chứng từ thanh toán, phương tiện thanh toán; sử dụng chứng từ thanh toán, phương tiện thanh toán giả;

    i) Kinh doanh vàng trái phép hoặc kinh doanh ngoại hối trái phép;

    k) Tiến hành hoạt động ngân hàng khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật các tổ chức tín dụng.

    2. Phạm tội gây thiệt hại về tài sản từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

    3. Phạm tội gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

    4. Phạm tội gây thiệt hại về tài sản 3.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

    5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

     

    Ngoài ra, trong quá trình thanh toán này không có việc mua bán hàng hóa thực nên để hợp thức nguồn tiền hợp thức giao dịch thanh toán có thể các đối tượng tạo lập hồ sơ thanh toán khống, hành vi này có dấu hiệu của tội danh "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức" theo quy định tại Điều 341 Bộ luật hình sự có mức hình phạt từ cao nhất lên đến 07 năm tù.

     

    Điều 341. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

    1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

    a) Có tổ chức;

    b) Phạm tội 02 lần trở lên;

    c) Làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác;

    d) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;

    đ) Thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;

    e) Tái phạm nguy hiểm.

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

    a) Làm 06 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác trở lên;

    b) Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

    c) Thu lợi bất chính 50.000.000 đồng trở lên.

    4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”.

     

    Ngoài ra còn có thể phạm các tội khác có liên quan đến linh vực hóa đơn, chứng từ kế toán, thu thuế,...

     

    Hiện nay, rất nhiều đối tượng lợi dụng việc thực hiện dịch vụ rút tiền mặt và đáo hạn thể tín dụng qua máy POS để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chủ thẻ tín dụng. Nhiều người nhẹ dạ cả tin đã đưa thẻ tín dụng của mình và cung cấp một số thông tin để các đối tượng trung gian này thực hiện dịch vụ rút tiền mặt hoặc đáo hạn thẻ tín dụng. Sau khi nhận được thẻ, các đối tượng này liên hệ với những công ty, cửa hàng có máy POS để thực hiện việc rút tiền hoặc đáo hạn thẻ. Nhận được tiền, các đối tượng này chiếm đoạt luôn số tiền đã rút, cắt đứt hết mọi liên lạc mà không đưa lại cho chủ thẻ.

     

    Hành vi này đang diễn ra tràn lan thông qua các trang mạng xã hội, do đó mọi người  sử dụng thẻ tín dụng nên tuân thủ mọi quy định của Ngân hàng, thực hiện các giao dịch thẻ tín dụng hợp pháp, tránh mất tiền và vi phạm quy định của pháp luật.

     

     

     

    THÔNG TIN LIÊN HỆ

    Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồngsoạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.

     

    VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM

    Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

    Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898

    Website: luatsugioisaigon.com.vn

    Danh mục bài viết

    Bài viết mới