
Hiện nay, khi xảy ra tranh chấp vay mượn tiền bạc, không ít người lựa chọn cách đăng tải hình ảnh, thông tin cá nhân của “con nợ” lên Facebook, TikTok, Zalo hoặc các nền tảng mạng xã hội khác nhằm gây áp lực để đòi tiền. Tuy nhiên, nhiều người cho rằng mình là chủ nợ thì có quyền “bóc phốt”, công khai hình ảnh người vay để đòi lại tài sản. Thực tế, hành vi này có thể khiến chủ nợ đối mặt với nhiều rủi ro pháp lý nghiêm trọng, từ bị xử phạt vi phạm hành chính cho đến bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc đời sống riêng tư của người khác. Vậy pháp luật hiện hành quy định như thế nào về việc đưa hình ảnh người khác lên mạng xã hội để đòi nợ? Chủ nợ có thể bị xử lý ra sao? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu trong bài viết dưới đây.

Có được đăng hình ảnh, thông tin của “con nợ” lên mạng xã hội để đòi nợ hay không?
Căn cứ Điều 32 Bộ luật Dân sự 2015, cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình. Theo đó, việc sử dụng hình ảnh của người khác phải được chính người đó đồng ý, trừ một số trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định. Đối với trường hợp sử dụng hình ảnh nhằm mục đích thương mại thì còn phải trả thù lao cho người có hình ảnh, nếu các bên không có thỏa thuận khác.
Pháp luật hiện hành chỉ cho phép sử dụng hình ảnh của cá nhân mà không cần sự đồng ý trong một số trường hợp nhất định, chẳng hạn như: phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng hoặc hình ảnh được ghi nhận từ các hoạt động công cộng như hội nghị, hội thảo, thi đấu thể thao, biểu diễn nghệ thuật… với điều kiện việc sử dụng đó không làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh.
Đồng thời, Điều 38 Bộ luật Dân sự 2015 cũng quy định đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của mỗi người là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng hoặc công khai thông tin cá nhân của người khác phải được người đó đồng ý, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Như vậy, mặc dù một người đang nợ tiền hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì chủ nợ cũng không được tự ý đăng tải hình ảnh, video, số điện thoại, địa chỉ hoặc các thông tin cá nhân khác của họ lên Facebook, TikTok, Zalo hay các nền tảng mạng xã hội nhằm mục đích gây áp lực đòi nợ nếu chưa được sự đồng ý của người đó. Việc cho rằng “mình là chủ nợ nên có quyền đăng bài bóc phốt” là cách hiểu không đúng quy định pháp luật.
Trường hợp tự ý đăng tải hình ảnh, thông tin cá nhân của người khác lên mạng xã hội làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc đời sống riêng tư của họ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, người đăng tải có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, bị yêu cầu gỡ bỏ thông tin, xin lỗi công khai, bồi thường thiệt hại hoặc thậm chí bị xem xét trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, người có hình ảnh bị đăng tải trái phép còn có quyền yêu cầu Tòa án buộc người vi phạm chấm dứt hành vi sử dụng hình ảnh, thu hồi, xóa bỏ các nội dung đã đăng tải và bồi thường thiệt hại nếu có phát sinh thiệt hại thực tế.
Chủ nợ có thể bị xử lý như thế nào khi đăng hình người khác lên mạng đòi nợ?
Như đã phân tích ở trên, mặc dù việc đòi lại tiền cho vay là quyền hợp pháp của chủ nợ, tuy nhiên quyền này phải được thực hiện đúng trình tự, đúng quy định của pháp luật. Việc tự ý đăng tải hình ảnh, thông tin cá nhân hoặc “bóc phốt” người khác trên mạng xã hội để gây áp lực đòi nợ không chỉ xâm phạm quyền nhân thân của người khác mà còn có thể khiến chính chủ nợ đối mặt với nhiều rủi ro pháp lý nghiêm trọng.
Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, người đăng tải hình ảnh, thông tin của người khác lên Facebook, TikTok, Zalo hoặc các nền tảng mạng xã hội khác để đòi nợ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính, buộc bồi thường thiệt hại dân sự hoặc thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành.
Có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 10 triệu đồng đến 30 triệu đồng
Căn cứ điểm e khoản 3 Điều 102 Nghị định 15/2020/NĐ-CP, hành vi thu thập, xử lý hoặc sử dụng thông tin cá nhân của người khác mà không được sự đồng ý hoặc sử dụng sai mục đích theo quy định của pháp luật có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.
Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP cũng quy định xử phạt đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để đăng tải, chia sẻ thông tin sai sự thật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc uy tín của cá nhân, tổ chức. Theo đó:
- Trường hợp đăng tải bài viết, hình ảnh, video kèm theo những nội dung mang tính bêu riếu, xúc phạm, vu khống hoặc xuyên tạc sự thật về người khác thì có thể bị phạt từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng;
- Trường hợp tự ý công khai thông tin thuộc đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của người khác trên mạng xã hội mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
Ngoài việc bị xử phạt bằng tiền, người vi phạm còn có thể bị buộc gỡ bỏ bài viết, hình ảnh, video hoặc các nội dung vi phạm đã đăng tải trên mạng xã hội theo quy định của pháp luật.
Như vậy, việc đăng hình ảnh, số điện thoại, địa chỉ, giấy tờ tùy thân hoặc các thông tin cá nhân khác của “con nợ” lên mạng xã hội để đòi tiền không phải là cách đòi nợ hợp pháp. Ngược lại, hành vi này có thể khiến chủ nợ bị xử phạt hành chính với mức phạt lên đến 30 triệu đồng tùy từng trường hợp cụ thể.
Trường hợp nghiêm trọng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Không chỉ dừng lại ở việc xử phạt hành chính, nếu hành vi đăng tải hình ảnh, thông tin cá nhân của người khác nhằm mục đích xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của họ thì người vi phạm còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội làm nhục người khác” theo Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Theo quy định này, người nào có hành vi xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người khác thì có thể bị:
- Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:
+ Phạm tội 02 lần trở lên;
+ Đối với 02 người trở lên;
+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
+ Đối với người đang thi hành công vụ;
+ Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;
+ Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên” bằng cụm từ “Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
+ Làm nạn nhân tự sát.
- Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Do đó, nhiều người cho rằng việc đăng bài “bóc phốt” con nợ lên Facebook chỉ là cách gây áp lực để đòi tiền. Tuy nhiên trên thực tế, chỉ vì một bài đăng thiếu kiểm soát, người đăng tải hoàn toàn có thể từ vị trí “chủ nợ” trở thành người vi phạm pháp luật, bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đòi nợ như thế nào cho đúng quy định pháp luật:
Cho vay tiền là một giao dịch dân sự phổ biến, theo đó, bên cho vay giao tiền cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay số tiền đã vay và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Thực tế cho thấy, ranh giới giữa đòi nợ hợp pháp và không hợp pháp là rất mong manh, nhiều vụ án hình sự liên quan đến đòi nợ không thành đã xảy ra một phần nguyên nhân xuất phát việc hiểu biết pháp luật chưa đầy đủ và chưa biết cách đòi nợ sao cho hợp tình, hợp lý.
Nếu việc cho vay tiền là hợp pháp, bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay trả đầy đủ khoản nợ gốc và lãi còn thiếu.
Bước đầu các bên có thể tiếp tục thỏa thuận trên tinh thần thiện chí, tự nguyện để tìm ra hướng giải quyết cho vấn đề, người cho vay có thể tham khảo các hướng giải quyết sau:
- Liên lạc trực tiếp: Gặp gỡ trực tiếp người vay tiền để trao đổi về khoản vay và tìm kiếm giải pháp thanh toán.
- Gửi thông báo nhắc nhở: Gửi thông báo bằng văn bản (email, tin nhắn, thư) nhắc nhở người vay tiền về khoản vay và thời hạn thanh toán.
- Thương lượng phương án thanh toán: Trao đổi với người vay tiền để thống nhất phương án thanh toán phù hợp cho cả hai bên (thời hạn trả nợ, số tiền trả mỗi lần, ...).
Trường hợp bên vay tiền cố ý không trả nợ, không hợp tác thương lượng về khoản vay hay có những dấu hiệu bất thường như trốn tránh, rời khỏi nơi cư trú,... thì người cho vay có thể nhờ sự can thiệp của cơ quan công an để bảo vệ quyền lợi của mình.
Ngoài ra, để buộc người vay trả tiền cho mình mà không vi phạm pháp luật, người cho vay có thể khởi kiện đòi nợ ra tòa án theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015
Người bị đăng hình ảnh lên mạng xã hội để đòi nợ cần làm gì?
Như đã phân tích ở trên, việc đòi nợ phải được thực hiện đúng quy định pháp luật. Chủ nợ không được tự ý đăng tải hình ảnh, thông tin cá nhân của người khác lên Facebook, TikTok, Zalo hoặc các nền tảng mạng xã hội nhằm bêu riếu, xúc phạm danh dự, nhân phẩm để gây áp lực đòi nợ. Trường hợp bị đăng tải hình ảnh, thông tin cá nhân trái phép, người bị hại có thể thực hiện các biện pháp pháp lý sau đây để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình:

- Tố cáo đến cơ quan Công an
Người bị đăng tải hình ảnh có thể làm đơn tố cáo gửi đến cơ quan Công an để yêu cầu xem xét, xử lý hành vi vi phạm. Nội dung đơn cần thể hiện rõ thông tin người tố cáo, người bị tố cáo, nội dung vụ việc và các hành vi đăng tải hình ảnh, thông tin nhằm xúc phạm danh dự, nhân phẩm của mình.
Kèm theo đơn tố cáo, người bị hại nên cung cấp các tài liệu, chứng cứ liên quan như hình ảnh bài đăng, video, tin nhắn, bình luận hoặc các tài liệu khác chứng minh hành vi vi phạm.
- Khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu bồi thường
Ngoài việc tố cáo đến cơ quan Công an, người bị đăng hình ảnh lên mạng xã hội còn có quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu:
- Buộc gỡ bỏ bài viết, hình ảnh vi phạm;
- Xin lỗi, cải chính công khai;
- Bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín và tinh thần theo quy định pháp luật.
Thông thường, Tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nơi người đăng tải hình ảnh cư trú hoặc làm việc.
- Chủ động lưu giữ chứng cứ vi phạm
Trên thực tế, sau khi biết bị tố cáo hoặc khởi kiện, người đăng tải thường nhanh chóng xóa bài viết, chỉnh sửa nội dung hoặc khóa tài khoản mạng xã hội. Vì vậy, người bị hại cần chủ động chụp màn hình, quay video, sao lưu bài viết hoặc lập vi bằng để ghi nhận lại nội dung vi phạm làm căn cứ bảo vệ quyền lợi của mình trong quá trình giải quyết vụ việc.
Kết luận: Như vậy, việc đòi nợ là quyền hợp pháp của mỗi cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên, quyền này phải được thực hiện đúng trình tự, đúng quy định của pháp luật. Việc tự ý đăng tải hình ảnh, thông tin cá nhân của người khác lên mạng xã hội để “bóc phốt”, gây áp lực đòi nợ có thể khiến chính chủ nợ đối mặt với nhiều rủi ro pháp lý nghiêm trọng như bị xử phạt vi phạm hành chính, buộc bồi thường thiệt hại hoặc thậm chí bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, khi phát sinh tranh chấp vay mượn tiền bạc, người dân nên lựa chọn các biện pháp pháp lý phù hợp như thương lượng, yêu cầu thanh toán bằng văn bản hoặc khởi kiện tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tránh sử dụng các hành vi cực đoan, vi phạm pháp luật chỉ vì nóng giận hoặc muốn đòi nợ nhanh chóng.
Trong trường hợp anh/chị đang gặp các vấn đề pháp lý liên quan đến vay mượn tiền, tranh chấp hợp đồng, bị chiếm đoạt tài sản, khởi kiện đòi nợ hoặc bị đăng tải hình ảnh, thông tin cá nhân trái phép lên mạng xã hội gây ảnh hưởng đến danh dự, uy tín, Văn phòng Luật sư chúng tôi hỗ trợ các dịch vụ pháp lý:
- Tư vấn hướng xử lý đúng quy định pháp luật;
- Soạn đơn khởi kiện, đơn tố cáo, đơn yêu cầu xử lý vi phạm;
- Thu thập, củng cố chứng cứ;
- Đại diện tham gia làm việc với cơ quan Công an, Tòa án;
- Tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng trong các vụ án dân sự, hình sự liên quan đến tranh chấp vay nợ, chiếm đoạt tài sản và xâm phạm danh dự, nhân phẩm trên không gian mạng.
Nếu anh/chị cần được hỗ trợ pháp lý cụ thể, vui lòng liên hệ thông tin bên dưới để được Luật sư tư vấn và hỗ trợ kịp thời.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồng, soạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.
VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM
Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh
Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898







