Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có: Bao nhiêu tiền thì bị truy cứu hình sự?

98S Trần Đại Nghĩa, Phường Tân Tạo, TP. Hồ Chí Minh
0939 858 898
luatsucncvietnam@gmail.com
Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có: Bao nhiêu tiền thì bị truy cứu hình sự?
Ngày đăng: 22/08/2026

    Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có: Bao nhiêu tiền thì bị truy cứu hình sự?

     

    Khi phát hiện tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội, nhiều người cho rằng chỉ cần giá trị tài sản nhỏ thì việc mua, bán, nhận giữ hoặc tiêu thụ tài sản đó chỉ bị xử phạt hành chính. Tuy nhiên, cách hiểu này không phải lúc nào cũng đúng. Giá trị tài sản là bao nhiêu, người tiêu thụ có biết tài sản do phạm tội mà có hay không và trong trường hợp nào có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự? Đây là những vấn đề cần được xem xét khi xác định trách nhiệm theo Điều 323 Bộ luật Hình sự. Vậy tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có bao nhiêu tiền thì bị truy cứu hình sự? Hãy cùng theo dõi bài viết bên dưới của chúng tôi để làm rõ vấn đề này nhé.

     

    Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có: Bao nhiêu tiền thì bị truy cứu hình sự-2

     

    Tài sản do người khác phạm tội mà có là gì?

    Theo khoản 1 Điều 1 Thông tư liên tịch số 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC, “tài sản do người khác phạm tội mà có” được hiểu là tài sản do người phạm tội có được trực tiếp từ việc thực hiện hành vi phạm tội hoặc có được từ việc mua bán, trao đổi bằng tài sản có được trực tiếp từ hành vi phạm tội. Chẳng hạn, tiền, tài sản có được từ hành vi trộm cắp, tham ô, nhận hối lộ hoặc tài sản được mua bằng số tiền có nguồn gốc từ những hành vi phạm tội này đều có thể được xác định là tài sản do phạm tội mà có.

    Về phạm vi, theo khoản 3 Điều 1 Thông tư liên tịch số 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC, tài sản trong trường hợp này được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản. Do đó, đối tượng của hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ không chỉ giới hạn ở tiền hoặc những tài sản hữu hình như xe máy, điện thoại, máy tính mà còn có thể bao gồm các loại tài sản khác theo quy định của pháp luật.

     

    Hành vi chứa chấp và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được hiểu như thế nào?

    Căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 2 Thông tư liên tịch số 09/2011/TTLT-BCA-BQP-BTP-NHNNVN-VKSNDTC-TANDTC đã hướng dẫn cụ thể các dạng hành vi tương ứng. Theo đó, đối với hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có, hành vi này được thể hiện thông qua việc một người nhận cất giữ, cất giấu, bảo quản hoặc cho người phạm tội để nhờ, thuê địa điểm để cất giữ, cất giấu, bảo quản tài sản, trong khi biết rõ tài sản đó có nguồn gốc từ hành vi phạm tội. Ví dụ, một người biết rõ chiếc xe máy do bạn mình trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý nhận giữ xe, cất giấu xe để tránh bị phát hiện thì có thể bị xem xét về hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có.

    Trong khi đó, hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có về cơ bản thể hiện ở việc một người mua, bán, trao đổi, cho, tặng, sử dụng hoặc bằng các hình thức khác chuyển dịch quyền sở hữu tài sản cho người khác, trong khi biết rõ tài sản đó do người khác phạm tội mà có. Chẳng hạn, một người biết chiếc xe máy là tài sản do trộm cắp nhưng vẫn nhận bán lại cho người khác để hưởng lợi thì có thể bị xem xét về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

    Như vậy, “chứa chấp” và “tiêu thụ” là hai dạng hành vi khác nhau, nhưng đều có điểm chung quan trọng là người thực hiện biết rõ tài sản có nguồn gốc từ hành vi phạm tội của người khác. Đây cũng là vấn đề đặc biệt cần lưu ý, bởi không phải mọi trường hợp mua, bán, nhận giữ hoặc sử dụng tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp đều mặc nhiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự; việc xử lý còn phải căn cứ vào nhận thức của người thực hiện, nguồn gốc tài sản và các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo Điều 323 Bộ luật Hình sự.

     

    Bao nhiêu tiền thì bị truy cứu về Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có?

    Không phải cứ tài sản có giá trị dưới một mức tiền nhất định thì chỉ bị xử phạt hành chính. Khác với một số tội phạm về tài sản có quy định rõ giá trị tài sản là dấu hiệu bắt buộc để xác định trách nhiệm hình sự, Điều 323 Bộ luật Hình sự không quy định một mức giá trị tài sản tối thiểu đối với trường hợp quy định. Cụ thể, khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự quy định: “Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có” thì có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

    Như vậy, để xem xét trách nhiệm hình sự về tội danh này, không thể chỉ căn cứ vào việc tài sản có giá trị bao nhiêu tiền. Trường hợp người thực hiện có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ, biết rõ tài sản do người khác phạm tội mà có, không có sự hứa hẹn trước với người phạm tội và hành vi đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, kể cả khi giá trị tài sản không lớn.

    Điểm cần đặc biệt lưu ý là các mức giá trị tài sản được quy định tại khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 323 Bộ luật Hình sự là những căn cứ để xác định khung hình phạt tăng nặng. Theo đó, tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng là tình tiết định khung tại điểm c khoản 2; từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng thuộc điểm a khoản 3; và từ 1.000.000.000 đồng trở lên thuộc điểm a khoản 4 Điều 323. Do đó, có thể hiểu đơn giản rằng: tài sản càng có giá trị lớn thì người phạm tội có thể phải chịu khung hình phạt càng nghiêm khắc; nhưng không có nghĩa tài sản phải đạt từ 100.000.000 đồng trở lên thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngay cả trường hợp tài sản có giá trị thấp hơn mức này, nếu hành vi đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của khoản 1 Điều 323 thì người thực hiện vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

    Ví dụ, một người biết rõ chiếc điện thoại trị giá 5.000.000 đồng là tài sản do người khác trộm cắp mà có nhưng vẫn cố ý mua lại để sử dụng hoặc bán cho người khác, đồng thời không có sự hứa hẹn trước với người thực hiện hành vi trộm cắp. Trong trường hợp này, không thể chỉ dựa vào giá trị 5.000.000 đồng để kết luận người mua chỉ bị xử phạt hành chính; cơ quan có thẩm quyền vẫn phải xem xét toàn bộ các dấu hiệu của hành vi theo Điều 323 Bộ luật Hình sự.

    Như vậy, đối với Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, câu hỏi “bao nhiêu tiền thì bị truy cứu hình sự?” thực chất không có một con số tối thiểu cố định. Giá trị tài sản chủ yếu có ý nghĩa trong việc xác định khung hình phạt tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 323; còn ở khoản 1, vấn đề cốt lõi là phải xác định người thực hiện có hành vi chứa chấp, tiêu thụ tài sản, biết rõ tài sản đó do người khác phạm tội mà có và không hứa hẹn trước với người phạm tội, cùng các dấu hiệu khác theo quy định của pháp luật hình sự.

     

    Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có bị phạt như thế nào?

    Tùy thuộc vào tính chất, mức độ và các dấu hiệu của hành vi, người có hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, không phải mọi trường hợp mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp đều mặc nhiên bị xử lý hình sự; việc xác định chế tài phải căn cứ vào các điều kiện cụ thể theo quy định của pháp luật.

     

    Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có: Bao nhiêu tiền thì bị truy cứu hình sự-3

     

    Trường hợp bị xử phạt vi phạm hành chính

    Nếu hành vi chưa đủ các dấu hiệu để truy cứu trách nhiệm hình sự về Điều 323 Bộ luật Hình sự thì tùy trường hợp, người vi phạm có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định hiện hành. Cụ thể, điểm d khoản 2 Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi mua, bán, cất giữ hoặc sử dụng tài sản của người khác mà biết rõ tài sản đó do vi phạm pháp luật mà có.

    Ngoài mức phạt tiền, người thực hiện hành vi vi phạm còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là trục xuất nếu là người nước ngoài, tùy thuộc vào tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm và các tình tiết của vụ việc. Đồng thời, người vi phạm phải nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm theo quy định tại khoản 3 và điểm a khoản 4 Điều 18 Nghị định 282/2025/NĐ-CP.

     

    Trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự

    Điều 323 Bộ luật Hình sự quy định về Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Theo đó, người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cụ thể, Điều 323 Bộ luật Hình sự quy định các khung hình phạt như sau:

    - Khung hình phạt cơ bản: Người phạm tội bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

    - Khung hình phạt từ 03 năm đến 07 năm tù: Áp dụng khi phạm tội thuộc một trong các trường hợp như có tổ chức; có tính chất chuyên nghiệp; tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng; thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; hoặc tái phạm nguy hiểm.

    - Khung hình phạt từ 07 năm đến 10 năm tù: Áp dụng khi tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng.

    - Khung hình phạt từ 10 năm đến 15 năm tù: Áp dụng khi tài sản, vật phạm pháp trị giá từ 1.000.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 300.000.000 đồng trở lên.

    Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

    Theo đó, cần phân biệt rõ rằng các mức giá trị tài sản từ 100 triệu đồng, 300 triệu đồng và 1 tỷ đồng là căn cứ để xác định các khung hình phạt tăng nặng, chứ không phải điều kiện tối thiểu để một người bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp hành vi đã đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của khoản 1 Điều 323 thì người thực hiện vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự dù giá trị tài sản thấp hơn các mức nêu trên.

    Như vậy, ranh giới giữa xử phạt hành chính và truy cứu trách nhiệm hình sự không đơn thuần nằm ở giá trị tài sản. Đối với Điều 323 Bộ luật Hình sự, cơ quan có thẩm quyền phải xem xét tổng thể các yếu tố như hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ, việc người thực hiện có biết rõ tài sản do người khác phạm tội mà có hay không, có hứa hẹn trước với người phạm tội hay không và các tình tiết khác của vụ việc. Chỉ khi hành vi chưa đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm thì mới đặt ra vấn đề xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tương ứng.

     

     

     

    THÔNG TIN LIÊN HỆ

    Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồngsoạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.

     

    VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM

    Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

    Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898

    Website: luatsugioisaigon.com.vn

    Danh mục bài viết

    Bài viết mới