Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm: cách phân biệt theo bộ luật hình sự người dân cần lưu ý

98S Trần Đại Nghĩa, Phường Tân Tạo, TP. Hồ Chí Minh
0939 858 898
luatsucncvietnam@gmail.com
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm: cách phân biệt theo bộ luật hình sự người dân cần lưu ý
Ngày đăng: 07/05/2026

    phân biệt lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

     

     

    Trong thực tiễn đời sống, các hành vi chiếm đoạt tài sản ngày càng diễn biến tinh vi, phức tạp, khiến không ít người dân nhầm lẫn giữa tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Việc phân định không rõ ràng hai tội danh này không chỉ gây khó khăn trong việc tố giác, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, mà còn tiềm ẩn rủi ro pháp lý nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ việc. Trên thực tế, dù cùng có dấu hiệu chiếm đoạt tài sản, nhưng bản chất pháp lý, thời điểm phát sinh ý chí chiếm đoạt và phương thức thực hiện hành vi của hai tội danh này là hoàn toàn khác nhau. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn phân biệt rõ tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật Hình sự, từ đó nhận diện đúng hành vi vi phạm, tránh nhầm lẫn và có cơ sở bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình một cách hiệu quả.

     

    phân biệt lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản-

     

    Lừa đảo chiếm đoạt tài sản được hiểu như thế nào?

    Căn cứ pháp lý:  Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Là hành vi dùng thủ đoạn gian dối ngay từ đầu nhằm làm cho người khác tin tưởng và giao tài sản, từ đó chiếm đoạt tài sản.

     

    Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được hiểu như thế nào?

    Căn cứ pháp lý: Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

    Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: Là hành vi ban đầu nhận tài sản hợp pháp thông qua việc vay, mượn, thuê hoặc giao kết hợp đồng, nhưng sau đó dùng thủ đoạn gian dối, bỏ trốn để chiếm đoạt, hoặc đến hạn có khả năng trả nhưng cố tình không trả, hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng hoàn trả.

     

    Cách phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

    Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đều là các hành vi nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của người khác thông qua thủ đoạn gian dối. Cả hai tội danh này đều xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây thiệt hại về tài sản và làm ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội.

    Để nhận biết được loại tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chúng ta cần dựa vào 4 yếu tố cấu thành tội phạm: Chủ thể, khách thể, mặt khách quan, mặt chủ quan của tội phạm. Cụ thể như sau:

     

    Thứ nhất, chủ thể của tội lừa đảo và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

    Chủ thể của cả hai tội danh này đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật.

    Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự: Đối với cả hai tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội đủ 16 tuổi mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đồng thời, còn phải thỏa mãn điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự (giá trị tài sản chiếm đoạt):

    ► Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Nếu người phạm tối chiếm đoạt tài sản dưới 2.000.000 đồng thì phải là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ thì mới là chủ thể của tội phạm.

    Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: Nếu chiếm đoạt tài sản dưới 4.000.000 đồng thì người phạm tội phải là người đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ thì mới là chủ thể của tội phạm.

     

    Thứ hai, khách thể của tội phạm:

    Cả hai tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đế quan hệ sở hữu, đây cũng là một điểm khác với tội cưới giật tài sản, tội bắt có chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản. Đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành hai tội danh trên nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khở là tình tiết định tội hay định khung hình phạt.

    Về đối tượng tác động của cả hai tội danh trên là: Tài sản. Điều 174, Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 có bổ sung “tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ”, nhưng đây là tình tiết định tội trong trường hợp giá trị tài sản dưới 2.000.000 đồng (đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản) và dưới 4.000.000 đồng (đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản), còn giá trị tài sản trên 2.000.000 đồng (đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản) và tên 4.000.000 đồng (đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản) thì không cần xác định tìa sản có phải là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ hay không.

    Lưu ý: Cho đến nay chưa có hướng dẫn thế nào là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ nên thực tiễn có nhiều trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng ở địa phương còn rất lúng túng khi xác định các tình tiết phạm tội này.

     

    Thứ ba, mặt khách quan của tội phạm:

    • Hành vi khách quan:

    * Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản như đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là thật và tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội. Đối với tội lựa đào chiếm đoạt tài sản thì luôn phải có thủ đoạn gian dối, thủ đoạn gian dối này phải thực hiện trước thời điểm chuyển giao tài sản.

    Đưa ra thông tin gian dối: có thể bằng lời nói, hành động, hồ sơ, giấy tờ, vật giả,…

    Đung thủ đoạn gian dối là đặc trưng cơ bản của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhưng không phải là dấu hiệu duy nhất của tội phạm, mà ngoài thủ đoạn gian dối, người phạm tội còn phải có hành vi chiếm đoạt tài sản thì mới đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hành vi chỉ cấu thành tội phạm khi chiếm đoạt tài sản:

    - Trên 02 triệu đồng;

    - Dưới 02 triệu đồng, thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cụ thể:

    + Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

    + Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 Bộ luật Hình sự chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

    + Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

    + Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.

     

    * Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi sau khi nhận được tài sản người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản đó;

    Hoặc không dùng thủ đoạn gian dối mà sau khi đã nhận tài sản một cách hợp pháp rồi bỏ trốn với ý thức không thanh toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu thì cũng là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản;

    Hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

    Hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

    Hành vi chỉ cấu thành tội phạm khi tài sản chiếm đoạt:

    - Trên 04 triệu đồng;

    - Dưới 04 triệu đồng, thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, cụ thể:

    + Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt

    + Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

    + Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

     

    Hậu quả: Hậu quả của hai tội danh trên đều là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là trị giá tài sản bị chiếm đoạt.

     

    Thứ tư, mặt chủ quan của tội phạm

    • Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

    Lỗi: thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp

    Mục đích: chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Tức thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội.

     

    • Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

    Lỗi: thực hiện do lỗi cố ý trực tiếp

    Mục đích: chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên mục đich này xuất hiện sau khi có giao dịch hợp pháp, tức là sau khi có được tài sản người phạm tội mới nảy sinh ý định và hành vi chiếm đoạt.

     

    Kết luận

    Việc phân biệt đúng giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không chỉ có ý nghĩa về mặt pháp lý, mà còn là cơ sở quan trọng để người dân xác định đúng hành vi vi phạm, lựa chọn đúng hướng xử lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Thực tế cho thấy, chỉ cần nhầm lẫn về bản chất hành vi hoặc thời điểm phát sinh ý chí chiếm đoạt, vụ việc có thể bị đánh giá sai lệch, dẫn đến kéo dài thời gian giải quyết hoặc thậm chí bỏ lọt tội phạm.

    Nếu bạn đang gặp phải các vấn đề liên quan đến tranh chấp tài sản, bị chiếm đoạt tài sản, bị lừa đảo hoặc bị lợi dụng tín nhiệm, việc tham vấn luật sư ngay từ đầu là hết sức cần thiết để đảm bảo quyền lợi được bảo vệ một cách kịp thời và đúng quy định pháp luật. Với kinh nghiệm thực tiễn trong nhiều vụ việc hình sự, chúng tôi cam kết đồng hành, bảo vệ quyền lợi khách hàng một cách tối đa, đúng pháp luật và hiệu quả:

     

    phân biệt lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản - 2

     

     

     

     

    THÔNG TIN LIÊN HỆ

    Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồngsoạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.

     

    VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM

    Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

    Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898

    Danh mục bài viết

    Bài viết mới