Trong thực tế, không ít vụ việc xuất phát từ những mâu thuẫn tưởng chừng nhỏ nhặt nhưng lại bị giải quyết bằng dao, mã tấu hoặc các hung khí nguy hiểm khác. Nhiều người cho rằng, nếu nạn nhân may mắn không tử vong thì người gây ra thương tích chỉ bị xử lý về tội Cố ý gây thương tích. Tuy nhiên, đây là quan điểm chưa hoàn toàn chính xác. Theo quy định của pháp luật hình sự, việc dùng hung khí nguy hiểm chém vào các vùng trọng yếu trên cơ thể như đầu, cổ, ngực, bụng... dù nạn nhân không chết vẫn có thể là căn cứ để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét trách nhiệm hình sự về tội Giết người trong từng trường hợp cụ thể. Vậy, căn cứ nào để xác định người thực hiện hành vi phạm tội Giết người hay chỉ phạm tội Cố ý gây thương tích? Hãy cùng tìm hiểu bài viết bên dưới của chúng tôi để làm rõ vấn đề này nhé.

Hung khí nguy hiểm là gì? Pháp luật quy định như thế nào?
Hiện nay, không có quy định nào quy định cụ thể về “hung khí nguy hiểm”. Tuy nhiên, theo tinh thần của Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP, cụ thể tại tiểu mục 3.1 mục 3 có quy định về Tình tiết "dùng hung khí nguy hiểm" cụ thể như sau: "Dùng hung khí nguy hiểm" quy định tại điểm a khoản 1 Điều 104 của BLHS là trường hợp dùng vũ khí hoặc phương tiện nguy hiểm theo hướng dẫn tại các tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Ví dụ: Theo hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17-4-2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì dao nhọn là phương tiện nguy hiểm và đã được A sử dụng gây thương tích cho B thì thuộc trường hợp "dùng hung khí nguy hiểm".
Để làm rõ nội hàm của khái niệm này, tại tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, đã hướng dẫn cụ thể như sau:
“2. Về khái niệm "vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác" quy định tại điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự
2.1. "Vũ khí" là một trong các loại vũ khí được quy định tại khoản 1 Điều 1 Quy chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (ban hành kèm theo Nghị định số 47/CP ngày 12/8/1996 của Chính phủ).
2.2. "Phương tiện nguy hiểm" là công cụ, dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên mà người phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khoẻ của người bị tấn công.
a. Về công cụ, dụng cụ
Ví dụ: búa đinh, dao phay, các loại dao sắc, nhọn...
b. Về vật mà người phạm tội chế tạo ra
Ví dụ: thanh sắt mài nhọn, côn gỗ...
c. Về vật có sẵn trong tự nhiên
Ví dụ: gạch, đá, đoạn gậy cứng, chắc, thanh sắt…”
Từ các quy định nêu trên có thể thấy, hung khí nguy hiểm không chỉ giới hạn ở các loại vũ khí chuyên dụng mà còn bao gồm nhiều công cụ, dụng cụ hoặc vật dụng thông thường trong đời sống hằng ngày. Chỉ cần những vật này được sử dụng làm phương tiện tấn công và có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khỏe của người khác thì đều có thể được xác định là hung khí nguy hiểm trong từng trường hợp cụ thể.
Bên cạnh đó, việc xác định một vật có phải là hung khí nguy hiểm hay không không chỉ căn cứ vào tên gọi hoặc công dụng vốn có của vật đó, mà còn phải xem xét toàn diện đặc điểm của vật được sử dụng, cách thức thực hiện hành vi, vị trí bị tác động trên cơ thể nạn nhân, cường độ tấn công và khả năng gây ra hậu quả đối với tính mạng, sức khỏe của con người. Vì vậy, cùng là một con dao, thanh sắt hoặc đoạn gậy, nhưng nếu được sử dụng để tấn công vào các vùng trọng yếu như đầu, cổ, ngực hoặc bụng thì mức độ nguy hiểm sẽ được đánh giá khác so với việc sử dụng trong những hoàn cảnh thông thường.
Như vậy, trong quá trình giải quyết vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ đánh giá tổng thể toàn bộ chứng cứ và các tình tiết khách quan của vụ việc để xác định vật được sử dụng có phải là hung khí nguy hiểm hay không, làm cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và trách nhiệm hình sự của người thực hiện theo quy định của pháp luật.
Những vùng trọng yếu trên cơ thể được xác định như thế nào?
Hiện nay, pháp luật hình sự chưa có quy định cụ thể về khái niệm "vùng trọng yếu trên cơ thể" để áp dụng thống nhất trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự. Tuy nhiên, tại Công văn số 100/TANDTC-PC đề ngày 13/6/2023 và Công văn số 154B/TANDTC-PC đề ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân tối cao khi giải đáp một số vướng mắc trong xét xử. Theo đó Tòa án đã có đề cập đến vùng trọng yếu như sau: “Để áp dụng án lệ này, trước tiên cần xác định vùng trọng yếu trên cơ thể của con người là những vùng có các cơ quan quan trọng quyết định đến sự sống của con người (ví dụ: tim, gan, thận, não, động mạch chủ...), nếu bị xâm hại mà người bị xâm hại không được cấp cứu kịp thời sẽ chết.”
Từ hướng dẫn trên có thể hiểu, vùng trọng yếu trên cơ thể là những khu vực chứa các cơ quan có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc duy trì sự sống. Khi các cơ quan này bị tác động bởi ngoại lực với cường độ lớn hoặc bằng hung khí nguy hiểm thì nguy cơ dẫn đến tử vong hoặc đe dọa trực tiếp đến tính mạng là rất cao nếu không được cấp cứu, điều trị kịp thời. Một số vùng trọng yếu thường được nhắc đến bao gồm:
- Não: Trung tâm điều khiển toàn bộ hoạt động của cơ thể; tổn thương não có thể dẫn đến hôn mê, mất chức năng sống hoặc tử vong.
- Tim: Cơ quan bơm máu đi nuôi toàn bộ cơ thể; tổn thương tim có thể gây ngừng tuần hoàn và đe dọa trực tiếp đến tính mạng.
- Phổi: Cơ quan thực hiện chức năng hô hấp; tổn thương phổi nặng có thể gây suy hô hấp cấp, mất khả năng trao đổi oxy.
- Gan: Cơ quan thực hiện chức năng chuyển hóa, giải độc và tham gia đông máu; tổn thương gan nghiêm trọng có thể gây xuất huyết, suy gan cấp.
- Thận: Cơ quan lọc máu và duy trì cân bằng nội môi; tổn thương nặng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng sống.
- Động mạch chủ và các mạch máu lớn: Đây là những mạch máu có vai trò vận chuyển lượng máu lớn của cơ thể; nếu bị tổn thương có thể gây mất máu cấp và tử vong trong thời gian rất ngắn nếu không được cấp cứu kịp thời.
Như vậy, việc xác định vùng trọng yếu trên cơ thể có ý nghĩa quan trọng trong quá trình đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và là một trong những căn cứ để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, phân biệt giữa tội Giết người và tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Dùng hung khí chém người nhưng nạn nhân không chết, có thể phạm tội gì?
Việc nạn nhân không chết không phải là một trong những căn cứ để xác định tội danh đối với hành vi “dùng hung khí nguy hiểm chém người khác”. Mà việc xác định, người thực hiện hành vi “chém người” có phạm tội hay không còn căn cứ vào nhiều yếu tố khác nhau theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025. Theo đó, tại Công văn số 100/TANDTC-PC đề ngày 13/6/2023 và Công văn số 154B/TANDTC-PC đề ngày 11/8/2023 của Tòa án nhân dân tối cao cũng có hướng dẫn “Do đó, ngoài việc chứng minh bị cáo đã có hành vi dùng hung khí nguy hiểm tấn công vào vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại thì cần phải xem xét, đánh giá toàn diện các tài liệu, chứng cứ của vụ án, các tình tiết thể hiện tính chất, mức độ của hành vi, cơ chế hình thành vết thương, sự quyết liệt trong thực hiện hành vi, vị trí cơ thể bị hại mà bị cáo có ý định tấn công để chứng minh ý thức chủ quan của bị cáo là cố ý thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho tính mạng của bị hại; hành vi của bị cáo thể hiện sự côn đồ, hung hãn, quyết liệt, coi thường tính mạng người khác; bị hại không chết là ngoài ý thức, mong muốn chủ quan của bị cáo.”. Như vậy, không phải mọi trường hợp dùng hung khí chém người nhưng nạn nhân không chết đều chỉ bị xử lý về tội Cố ý gây thương tích. Việc xác định tội danh phải căn cứ vào ý thức chủ quan của người thực hiện hành vi, loại hung khí được sử dụng, vị trí bị tấn công, cách thức thực hiện, mức độ quyết liệt của hành vi, cơ chế hình thành thương tích, hậu quả xảy ra cùng toàn bộ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tùy từng trường hợp cụ thể, người thực hiện hành vi có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự như sau:

Thứ nhất, có thể bị truy cứu về tội Giết người.
Trường hợp người phạm tội sử dụng hung khí nguy hiểm, cố ý tấn công vào vùng trọng yếu trên cơ thể của nạn nhân với cường độ quyết liệt, mặc dù hậu quả chết người không xảy ra nhưng qua các tài liệu, chứng cứ có căn cứ xác định người này nhận thức được hành vi của mình có khả năng tước đoạt tính mạng người khác, mong muốn hoặc bỏ mặc hậu quả chết người xảy ra, thì việc nạn nhân còn sống chỉ được xem là ngoài ý muốn chủ quan của người phạm tội.
Trong trường hợp này, nếu hành vi đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm thì người thực hiện hành vi vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Giết người theo Điều 123 Bộ luật Hình sự. Việc nạn nhân không tử vong không làm thay đổi bản chất của hành vi nếu có đủ căn cứ chứng minh ý thức tước đoạt tính mạng của người phạm tội. Và trong trường hợp này, có thể được xem là phạm tội chưa đạt
Thứ hai, bị truy cứu về tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Ngược lại, nếu qua quá trình điều tra, truy tố và xét xử có căn cứ xác định người thực hiện hành vi chỉ nhằm gây thương tích cho nạn nhân, không có ý thức tước đoạt tính mạng, việc sử dụng hung khí không thể hiện sự quyết liệt, vị trí tấn công không phản ánh mục đích giết người hoặc các tình tiết khác của vụ án không đủ căn cứ chứng minh lỗi cố ý đối với hậu quả chết người thì người thực hiện hành vi sẽ không bị xử lý về tội Giết người.
Khi đó, căn cứ vào tính chất của hành vi, mức độ tổn hại về sức khỏe, tỷ lệ tổn thương cơ thể và các tình tiết định khung khác theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự, người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Như vậy, việc nạn nhân không tử vong không đồng nghĩa với việc người thực hiện hành vi đương nhiên chỉ bị xử lý về tội Cố ý gây thương tích. Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ căn cứ vào toàn bộ diễn biến vụ việc, ý thức chủ quan của người phạm tội và các chứng cứ có trong hồ sơ để xác định đúng tội danh theo quy định của pháp luật.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồng, soạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.
VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM
Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh
Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898
Website: luatsugioisaigon.com.vn







