Quy định về thời hiệu khởi kiện yêu càu phân chia di sản thừa kế?
Theo quy định tại khoản 3 Điều 150 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện. Thời hiệu được tính từ thời điểm bắt đầu ngày đầu tiên của thời hiệu và chấm dứt tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hiệu. Tương tự, thời hiệu khởi kiện phân chia di sản thừa kế là thời hạn mà các chủ thể như người thừa kế được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án tranh chấp thừa kế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện.
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản
- Đối với những trường hợp mở thừa kế từ ngày 01/01/2017 đến nay:
Hiện nay, theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
Trường hợp 1: Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản.
Trường hợp 2: Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu ở trường hợp 1.
Như vậy theo quy định trên thì đối với các di sản mà thời điểm mở thừa kế tính từ thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực (ngày 01/01/2017), thời hiệu khởi kiện yêu cầu phần chia di sản thừa kế là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản và thời hiệu này bắt đầu tính từ thời điểm mở thừa kế.
- Đối với những trường hợp mở thừa kế trước ngày 01/01/2017:
Căn cứ theo điểm d khoản 1 Điều 688 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định thì đối với giao dịch dân sự được xác lập trước ngày Bộ luật này có hiệu lực thì “Thời hiệu được áp dụng theo quy định của Bộ luật này”. Tuy nhiên, cần lưu ý quy định tại khoản 2 Điều 688 BLDS năm 2015: “Không áp dụng Bộ luật này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với vụ việc mà Tòa án đã giải quyết theo quy định của pháp luật về dân sự trước ngày Bộ luật này có hiệu lực”
Đồng thời, theo Mục I. Dân sự tại Giải đáp nghiệp vụ số 01/GĐ – TANDTC ngày 05/01/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn thì kể từ ngày Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực thi hành, Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 về thời hiệu thừa kế để thụ lý, giải quyết vụ án dân sự "Tranh chấp về thừa kế tài sản”. Theo đó, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản kể từ thời điểm mở thừa kế.
Phối hợp với Án lệ số 26/2018/AL “về xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu và thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bất động sản” được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thông qua ngày 17/10/2018 quy định thì trường hợp người để lại di sản thừa kế là bất động sản chết trước ngày công bố Pháp lệnh Thừa kế ngày 30-8-1990 và tại thời điểm Tòa án xét xử sơ thẩm, Bộ luật Dân sự 2015 đang có hiệu lực pháp luật thì thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Như vậy, căn cứ các quy định và hướng dẫn trên thì đối với vụ việc đang được Tòa án thụ lý giải quyết mà có thời điểm mở thừa kế trước ngày 01/01/2017 thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản sẽ áp dụng theo khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015, cụ thể là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản.

Với quy định mới về áp dụng thời hiệu khởi kiện trên, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã đưa ra các hướng dẫn về những trường hợp được khởi kiện lại các vụ án về tranh chấp thừa kế, cụ thể như sau:
Theo hướng dẫn tại khoản 4 Điều 4 Nghị quyết số 02/2016/NQ-HĐTP ngày 30/6/2016 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì từ ngày 01/01/2017, Tòa án áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Bộ luật Dân sự năm 2015 và luật khác có liên quan về thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu để thụ lý, giải quyết.
Khoản 3 Điều 7 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối hướng dẫn “các trường hợp khác theo quy định của pháp luật” được khởi kiện lại theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Theo hướng dẫn này thì:
(1) Đối với những vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản mà trước ngày 01/01/2017, Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện hoặc ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì lý do “thời hiệu khởi kiện đã hết”, nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 623, điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS năm 2015 thời hiệu khởi kiện vụ án đó vẫn còn, thì người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án theo quy định.
(2) Đối với những vụ án dân sự tranh chấp về thừa kế tài sản mà trước ngày 01/01/2017 đã được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định (trừ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vì thời hiệu khởi kiện đã hết) đã có hiệu lực pháp luật thì người khởi kiện không có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án đó.
(3) Đối với những vụ án dân sự chia tài sản chung là di sản thừa kế đã hết thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà trước ngày 01/01/2017 Tòa án đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án và trả lại đơn khởi kiện vì chưa đủ điều kiện khởi kiện chia tài sản chung, nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 623, điểm d khoản 1 Điều 688 BLDS năm 2015 thời hiệu khởi kiện vụ án chia thừa kế đối với di sản thừa kế đó vẫn còn, thì người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại để yêu cầu chia di sản thừa kế theo quy định. Trong trường hợp này, Tòa án xem xét thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
(4) Đối với những vụ án dân sự chia tài sản chung là di sản thừa kế đã hết thời hạn 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà trước ngày 01/01/2017 đã được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định (trừ quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vì thời hiệu khởi kiện đã hết) đã có hiệu lực pháp luật thì người khởi kiện không có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án đó.
Một số quy định “kéo dài” thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế
Thời hiệu khởi kiện yêu cầu phân chia di sản thừa kế có thể kéo dài ra thêm bởi các quy định đặc biệt cho phép “kéo dài” thời gian khởi kiện như quy định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện, quy định thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện, quy định bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được quy định trong Bộ luật Dân sự, một số văn bản pháp luật khác và Án lệ.
Thứ nhất, quy định trường hợp đặc biệt về thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện phân chia di sản thừa kế:
Như trình bày ở trên, thời điểm bắt đầu tính thời hiệu khởi kiện về thừa kế là tính từ thời điểm mở thừa kế, tức là ngày người để lại di sản chết. Tuy nhiên riêng đối với trường hợp thừa kế mở trước ngày 10/9/1990 (tức người thừa kế chết trước ngày 10/09/1990) và để lại bất động sản thì thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế là bất động sản được thực hiện theo quy định tại Điều 36 của Pháp lệnh Thừa kế 1990 và hướng dẫn tại Nghị quyết 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế, cụ thể: Thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế được tính từ công bố Pháp lệnh Thừa kế là ngày 10/9/1990.
Thứ hai, quy định thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện
Tại Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định về thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự, cụ thể như sau:
Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là khoảng thời gian xảy ra một trong các sự kiện sau đây:
1. Sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan làm cho chủ thể có quyền khởi kiện không thể khởi kiện trong phạm vi thời hiệu.
Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép.
Trở ngại khách quan là những trở ngại do hoàn cảnh khách quan tác động làm cho người có quyền, nghĩa vụ dân sự không thể biết về việc quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm hoặc không thể thực hiện được quyền, nghĩa vụ dân sự của mình;
2. Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện là người chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
3. Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chưa có người đại diện khác thay thế trong trường hợp sau đây:
- Người đại diện chết nếu là cá nhân, chấm dứt tồn tại nếu là pháp nhân;
- Người đại diện vì lý do chính đáng mà không thể tiếp tục đại diện được.
Theo đó nếu trong khoảng thời hạn được phép yêu cầu chia thừa kế mà xuất hiện một trong các sự kiện như trên thì khoảng thời gian này không tính vào thời hiệu khởi kiện.
Thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện trong một số trường hợp đặc biệt cần lưu ý như sau:
- Trường hợp thừa kế mở trước ngày 01/7/1991 mà không có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia và di sản thừa kế là nhà ở: thì thời hiệu khởi kiện được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị quyết số 58/1998/NQ-UBTVQH10 ngày 20/8/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Theo đó thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/01/1999 (ngày Nghị quyết số 58/1998 có hiệu lực), không tính vào thời hiệu khởi kiện. Như vậy, thời hiệu khởi kiện phân chia di sản thừa kế trong trường hợp này được kéo dài thêm 2 năm 6 tháng.
- Trường hợp thừa kế mở trước ngày 01/7/1991 mà có người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia và di sản thừa kế là nhà ở: thì thời hiệu khởi kiện được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 39 Nghị quyết số 1037/2006/NQ-UBTVQH11 ngày 27/7/2006 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Theo đó, thời gian từ ngày 01/7/1996 đến ngày 01/9/2006 (ngày Nghị quyết số 1037/2006 có hiệu lực) sẽ không tính vào thời hiệu khởi kiện. Như vậy, thời hiệu khởi kiện phân chia di sản thừa kế trong trường hợp này được kéo dài thêm 10 năm 2 tháng
Cha mẹ chết 10 năm trước có chi tài sản thừa kế được không?
Việc chia tài sản thừa kế sau khi cha mẹ đã qua đời là một quá trình phức tạp, đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc về pháp luật và quy định cụ thể của nó. Trong trường hợp này, quy định của Điều 623 Bộ Luật Dân sự 2015 cung cấp một khung thời gian rõ ràng để xác định liệu có thể chia tài sản thừa kế hay không.
Theo quy định này, thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, tính từ thời điểm mở thừa kế. Điều này có nghĩa là sau 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, nếu không có ai yêu cầu chia tài sản, thì di sản sẽ thuộc về người đang quản lý nó. Trường hợp không có người thừa kế nào đang quản lý di sản, thì di sản sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật, có thể là thuộc về người chiếm hữu hoặc thuộc về Nhà nước.
Do đó, dể xác định liệu con cái có thể yêu cầu chia tài sản thừa kế hay không, con cái cần biết rằng tài sản mà cha mẹ bạn để lại là bất động sản hay động sản. Nếu là bất động sản, thì thời hiệu vẫn còn có thể yêu cầu chia tài sản. Tuy nhiên, nếu đó là động sản và đã hết thời hiệu, sẽ không còn quyền khởi kiện để yêu cầu chia tài sản nữa, và di sản đó đã thuộc về người quản lý nó.
Vì vậy, để giải quyết vấn đề này, cần tìm hiểu rõ về loại tài sản mà cha mẹ để lại và kiểm tra xem thời hiệu chia tài sản còn hay đã hết. Trong trường hợp Quý khách hàng còn băn khoăn vấn đề gì có thể liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh để được hỗ trợ kịp thời nhất nhé ạ.
Trình tự, thủ tục thực hiện chia tài sản thừa kế của cha mẹ để lại?
Bước 1. Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện:
Căn cứ theo Điều 189 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, người khởi kiện chuẩn bị 01 bộ hồ sơ để khởi kiện phân chia di sản thừa kế bao gồm:
- Đơn khởi kiện theo mẫu.
- Người khởi kiện phải nộp kèm theo đơn khởi kiện các tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện là có căn cứ để Tòa án thụ lý vụ án. Tài liệu, chứng cứ phải bảo đảm tính đầy đủ và tính hợp pháp. Các tài liệu, chứng cứ này được liệt kê trong danh mục tài liệu, chứng cứ của nội dung đơn khởi kiện. Về cơ bản, các chứng cứ gồm các nhóm sau:
+ Các giấy tờ chứng minh tư cách của người khởi kiện: đối với cá nhân phải có căn cước công dân. chứng minh nhân dân.
+ Các giấy tờ về quan hệ giữa người khởi kiện và người để lại tài sản: Giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn, số hộ khẩu, giấy giao nhận nuôi con nuôi,...để xác định diện và hàng thừa kế...
+ Giấy chứng tử của người để lại di sản thừa kế;
+ Các giấy tờ, tài liệu chứng minh sở hữu của người để lại di sản và nguồn gốc di sản của người để lại di sản;
+ Các giấy tờ của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như: Chứng minh nhân dân/Căn cước công dân, Giấy khai sinh hoặc các giấy tờ có thông tin tương tự;
+ Các giấy tờ khác như: Biên bản giải quyết trong gia đình, biên bản giải quyết tại UBND xã phường, thị trấn (nếu có), tờ khai từ chối nhận di sản (nếu có), di chúc (nếu có),...
+ Trong trường hợp ủy quyền cho người khác đi giải quyết thì cung cấp thêm: Giấy ủy quyền và căn cước công dân người được ủy quyền;
+ Các bản tường trình liên quan đến tài liệu, chứng cứ và các vấn đề khác.

Lưu ý:
- Các tài liệu, chứng cứ nộp kèm theo đơn khởi kiện phải là bản chính hoặc bản sao có công chứng/chứng thực. Trong trường hợp Quý khách hàng không có một trong các giấy tờ, tài liệu nêu trên thì có thể đi trích lục tại cơ quan có thẩm quyền hoặc làm bản tường trình sự việc nộp cho Tòa án để Tòa án xem xét thụ lý vụ án và đồng thời sẽ yêu cầu Tòa án hỗ trợ xác minh trong quá trình giải quyết vụ án.
- Ngoài ra, người khởi kiện có thể bổ sung tài liệu chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình - giải quyết vụ án hoặc những tài liệu, chứng cứ mà người khởi kiện thu thập thêm được trong quá trình thụ lý vụ án. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm.
Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.
Bước 2. Nộp đơn khởi kiện:
Người khởi kiện có thể nộp đơn thông qua các hình thức sau:
- Nộp trực tiếp tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền
- Nộp qua đường bưu chính (gửi bưu điện) đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền
- Nộp trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)
Bước 3. Tiếp nhận và thụ lý đơn khởi kiện:
Thẩm phán dự tính tiền tạm ứng án phí phải nộp, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa thì người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí tại cơ quan thi hành án dân sự (xem trong giấy báo nếu có), sau khi nộp xong thì nộp lại biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án.
Sau khi nhận được biên lai, Thẩm phán thụ lý vụ án và ghi vào sổ thụ lý.
Bước 4. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm:
Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm không quá 04 tháng, vụ án phức tạp được gia hạn không quá 02 tháng (theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).
Bước 5. Xét xử sơ thẩm:
Nếu vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc đình chỉ thì Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử.
Sau khi xét xử có thể xảy ra một số trường hợp như: Kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
Nếu không có kháng cáo, kháng nghị hoặc giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì bản án sẽ có hiệu lực. Ngay cả khi bản án có hiệu lực thì không phải trường hợp nào người thua kiện cũng tự nguyện chấp hành mà phải yêu cầu thi hành án (nộp phí thi hành án và đề nghị cơ quan thi hành án dân sự thi hành bản án).
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồng, soạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.
VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM
Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh
Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898
Website: luatsugioisaigon.com.vn







