Trên thực tế, không phải mọi bản án sơ thẩm đều có hiệu lực ngay sau khi Tòa tuyên án. Thời điểm bản án có hiệu lực còn phụ thuộc vào việc các đương sự có thực hiện quyền kháng cáo hay Viện kiểm sát có kháng nghị theo quy định pháp luật hay không. Vậy bản án dân sự sơ thẩm có hiệu lực từ ngày nào? Trường hợp nào được thi hành ngay và trường hợp nào phải chờ hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị? Bài viết dưới đây sẽ phân tích cụ thể các quy định pháp luật để làm rõ vấn đề này.

Bản án dân sự sơ thẩm có hiệu lực khi nào?
Đối với bản án dân sự sơ thẩm, căn cứ khoản 2 Điều 282 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có quy định như sau: “2. Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.”
Theo quy định trên, không phải cứ Tòa án tuyên bản án sơ thẩm là bản án đã có hiệu lực pháp luật ngay. Đối với bản án sơ thẩm, pháp luật cho các đương sự và Viện kiểm sát một khoảng thời gian nhất định để thực hiện quyền kháng cáo, kháng nghị. Chỉ khi hết thời hạn này mà bản án hoặc một phần bản án không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì phần bản án đó mới phát sinh hiệu lực pháp luật theo quy định. Để xác định chính xác thời điểm bản án sơ thẩm có hiệu lực, cần xác định thời hạn kháng cáo của đương sự và thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát.
Thứ nhất, về thời hạn kháng cáo.
Căn cứ khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có quy định: “1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.”
Theo quy định này, thông thường, thời hạn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp thời hạn 15 ngày đều được tính từ ngày Tòa án tuyên án. Cụ thể, nếu đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án và có lý do chính đáng, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết. Ngược lại, trường hợp đương sự đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng, thì thời hạn kháng cáo vẫn được tính từ ngày tuyên án.
Thứ hai, về thời hạn kháng nghị của cơ quan có thẩm quyền.
Căn cứ khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có quy định về thời hạn kháng nghị, cụ thể: “1. Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án.”.
Như vậy, đối với bản án dân sự sơ thẩm, Viện kiểm sát cùng cấp có thời hạn 15 ngày để kháng nghị, trong khi Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có thời hạn 01 tháng theo quy định nêu trên.
Từ các quy định trên có thể thấy, thời điểm bản án dân sự sơ thẩm có hiệu lực không chỉ phụ thuộc vào việc đương sự có kháng cáo hay không mà còn phải xem xét thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát đã hết hay chưa. Do đó, đối với trường hợp thông thường, nếu bản án sơ thẩm không bị kháng cáo và cũng không bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, thì khi thời hạn kháng cáo, kháng nghị tương ứng đã hết, bản án hoặc phần bản án không bị kháng cáo, kháng nghị sẽ có hiệu lực pháp luật.
Cần lưu ý rằng, không nên hiểu máy móc rằng “cứ sau 30 ngày kể từ ngày tuyên án thì mọi bản án sơ thẩm đều có hiệu lực”. Bởi thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo có thể khác nhau tùy trường hợp của người tham gia tố tụng; bên cạnh đó, thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp được quy định là 01 tháng, chứ không phải được quy định theo cách “30 ngày” cố định.

Bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì có được thi hành không?
Không phải mọi bản án sơ thẩm đều phải chờ đến khi có hiệu lực pháp luật mới xem xét việc thi hành. Theo khoản 1 Điều 282 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 có quy định: “Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định cho thi hành ngay.”
Theo đó, về nguyên tắc, phần bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị sẽ chưa được đưa ra thi hành để chờ kết quả giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, trừ những trường hợp pháp luật quy định được thi hành ngay. Ngược lại, nếu chỉ có một phần bản án bị kháng cáo, kháng nghị, thì những phần còn lại không bị kháng cáo, kháng nghị có thể có hiệu lực pháp luật khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối với phần đó. Đây cũng là lý do pháp luật sử dụng cụm từ “bản án hoặc những phần bản án” tại Điều 282, thay vì mặc nhiên xem toàn bộ bản án là có hoặc chưa có hiệu lực.
Lưu ý:
Đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Còn đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng, thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.
Như vậy, muốn xác định chính xác ngày bản án dân sự sơ thẩm có hiệu lực, không thể chỉ nhìn vào ngày Tòa án tuyên án, mà cần xác định đầy đủ: ai có quyền kháng cáo, thời điểm bắt đầu tính thời hạn kháng cáo, thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát và bản án có bị kháng cáo, kháng nghị toàn bộ hay chỉ một phần hay không.
Đối với bản án bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm
Trường hợp bản án dân sự sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì bản án hoặc phần bản án bị kháng cáo, kháng nghị chưa có hiệu lực pháp luật và chưa được đưa ra thi hành theo thủ tục thông thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định được thi hành ngay. Khi đó, vụ án sẽ được giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Xét xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp phúc thẩm trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị.
Đối với trường hợp có kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, căn cứ Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định về bản án phúc thẩm: “Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.”
Theo đó, khác với bản án sơ thẩm phải hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị trong trường hợp không có kháng cáo, kháng nghị; bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay kể từ thời điểm Tòa án tuyên án. Khi bản án đã có hiệu lực pháp luật và về nguyên tắc có thể được đưa ra thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
Vì vậy, để bảo đảm việc yêu cầu thi hành án được thực hiện đúng thời điểm, đúng quy định và nhanh chóng, cô chú, anh chị và các bạn cần xác định chính xác bản án đã có hiệu lực pháp luật hay chưa; đặc biệt là bản án sơ thẩm có bị kháng cáo, kháng nghị và phạm vi kháng cáo, kháng nghị đến đâu. Việc xác định sai thời điểm bản án có hiệu lực có thể dẫn đến việc nộp đơn yêu cầu thi hành án khi chưa đủ điều kiện, từ đó ảnh hưởng đến thời gian, công sức và quá trình giải quyết hồ sơ thi hành án.
Cần làm gì nếu không đồng ý với bản án dân sự sơ thẩm?
Nếu không đồng ý với toàn bộ hoặc một phần bản án dân sự sơ thẩm, đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định để yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại vụ án. Trường hợp bản án đã có hiệu lực pháp luật, việc xem xét lại chỉ được thực hiện theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm khi có căn cứ theo quy định pháp luật.
Để hiểu rõ hơn về thời hạn, thủ tục và cách thức kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm, bạn có thể tham khảo TẠI ĐÂY.
Kết luận: Như vậy, việc xác định bản án dân sự đã có hiệu lực pháp luật hay chưa có ý nghĩa rất quan trọng, không chỉ đối với việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên mà còn quyết định đến khả năng yêu cầu thi hành án và thực hiện các thủ tục tố tụng tiếp theo. Trong thực tế, mỗi vụ án có thể phát sinh những tình huống khác nhau như bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị; cần tham gia phiên tòa phúc thẩm hoặc cho rằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm nghiêm trọng cần được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm.

Văn phòng Luật sư cung cấp dịch vụ; tư vấn và thực hiện thủ tục kháng cáo vụ án dân sự, tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tại phiên tòa phúc thẩm, tư vấn và soạn thảo đơn đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, trên cơ sở nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ và đối chiếu với các quy định pháp luật có liên quan.
Trường hợp quý khách đang có bản án dân sự sơ thẩm, phúc thẩm hoặc vụ án đã có hiệu lực nhưng cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình chưa được bảo đảm, việc được luật sư trực tiếp rà soát hồ sơ và đánh giá hướng xử lý phù hợp ngay từ đầu sẽ giúp hạn chế bỏ lỡ thời hạn tố tụng và bảo vệ tốt hơn quyền lợi của mình.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồng, soạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.
VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM
Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh
Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898
Website: luatsugioisaigon.com.vn







