Mua nhà trả góp trước khi kết hôn là tài sản riêng hay tài sản chung vợ chồng?

98S Trần Đại Nghĩa, Phường Tân Tạo, TP. Hồ Chí Minh
0939 858 898
luatsucncvietnam@gmail.com
Mua nhà trả góp trước khi kết hôn là tài sản riêng hay tài sản chung vợ chồng?
Ngày đăng: 10/08/2026

    mua-nha-tra-gop-truoc-khi-ket-hon-la-tai-san-rieng-hay-tai-san-chung-vo-chong-1

     

    Việc mua nhà bằng hình thức trả góp ngày càng phổ biến, đặc biệt đối với những người chưa lập gia đình. Tuy nhiên, không ít trường hợp sau khi ký hợp đồng mua nhà xong thì kết hôn và tiếp tục thanh toán các khoản nợ này trong thời kỳ hôn nhân, dẫn đến nhiều tranh cãi khi xác định quyền sở hữu đối với căn nhà. Vậy, mua nhà trả góp trước khi kết hôn là tài sản riêng hay tài sản chung vợ chồng? Chúng tôi sẽ giải đáp thắc mắc này trong bài viết sau đây.

     

    mua-nha-tra-gop-truoc-khi-ket-hon-la-tai-san-rieng-hay-tai-san-chung-vo-chong-2

     

    Mua nhà trả góp trước khi kết hôn là tài sản riêng hay tài sản chung vợ chồng?

    Để xác định căn nhà mà vợ/chồng mua trả góp trước trước khi kết hôn là tài sản riêng hay tài sản chung không chỉ phụ thuộc vào thời điểm ký hợp đồng mua bán mà còn phụ thuộc vào nguồn tiền thanh toán, thời điểm hình thành quyền sở hữu và nhiều yếu tố pháp lý khác, có thể chia thành các trường hợp sau đây:

    Trường hợp 1: Vợ/chồng đã hoàn tất việc trả góp trước khi kết hôn

    Căn cứ theo khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.”.

    Như vậy, nếu nhà trả góp đã được thanh toán đầy đủ trước khi kết hôn (tức việc trả góp được hoàn tất trước thời kỳ hôn nhân) thì đó đương nhiên là tài sản riêng của vợ hoặc chồng và quý anh/chị cần phải có giấy tờ chứng minh về thời điểm mà quý anh/chị hoàn thành việc trả góp cho ngôi nhà trước khi đăng ký kết hôn.

    Trường hợp 2: Việc trả góp được tiếp tục sau khi đăng ký kết hôn

    - Nếu nhà trả góp được tiếp tục thanh toán trong thời kỳ hôn nhân nhưng số tiền dùng để thanh toán là tài sản riêng thì đây được xem là tài sản riêng của vợ hoặc chồng, cụ thể căn cứ theo khoản 2 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

    “2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”.

    Theo đó, việc mua nhà trả góp được xác lập trước khi kết hôn và sau khi đăng ký kết hôn vẫn tiếp tục thanh toán các khoản trả góp đó nhưng toàn bộ số tiền dùng để trả góp đều là tài sản riêng của một bên vợ hoặc chồng thì căn nhà này được xác định là tài sản riêng của người đó. Bởi theo quy định pháp luật tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng.

    Tuy nhiên, vợ/chồng cần có tài liệu, chứng cứ chứng minh nguồn tiền dùng để thanh toán các khoản trả góp trong thời kỳ hôn nhân là tài sản riêng của mình, nếu không chứng minh được thì việc xác định căn nhà là tài sản riêng có thể gặp nhiều khó khăn khi phát sinh tranh chấp. Căn cứ theo khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

    - Nếu nhà trả góp được tiếp tục thanh toán trong thời kỳ hôn nhân và số tiền dùng để thanh toán là tài sản chung của vợ chồng thì đây được xem là tài sản chung, cụ thể căn cứ theo khoản 1 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

    “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.”.

    Như vậy, căn cứ theo quy định trên thì nhà mua trả góp trước khi đăng ký kết hôn nhưng các đợt trả góp trong thời kỳ hôn nhân được thanh toán bằng tiền lương hoặc các thu nhập khác của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phần nhà ở được trả góp là tài sản chung của vợ chồng.

     

    mua-nha-tra-gop-truoc-khi-ket-hon-la-tai-san-rieng-hay-tai-san-chung-vo-chong-3

     

    Khi vợ chồng ly hôn, căn nhà trả góp được chia như thế nào?

     Để xem xét việc chia căn nhà trả góp khi ly hôn, trước hết ta phải xác định căn nhà này là tài sản riêng hay tài sản chung. Như chúng tôi đã phân tích ở trên, việc xác định ngôi nhà trả góp là tài sản chung hay tài sản riêng phải căn cứ vào các yếu tố sau:

    - Hai vợ chồng có thỏa thuận đây là tài sản chung hay tài sản riêng chưa?

    - Xác định thời điểm hoàn tất việc trả góp cho căn nhà đó là khi nào, sau đó xem xét đến nguồn tiền trả góp trong thời kỳ hôn nhân là từ tài sản riêng hay chung của vợ chồng.

    Sau khi đã xác định xong, nếu căn nhà trả góp là tài sản riêng thì khi ly hôn không được chia, mà sẽ thuộc quyền sở hữu riêng của vợ hoặc chồng.

    Trong trường hợp, ngôi nhà trả góp là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì khi ly hôn, căn cứ vào Điều 59 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, việc chia tài sản sẽ do hai bên thỏa thuận hoặc thực hiện theo nguyên tắc chia đôi nhưng có tính đến:

    - Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

    - Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung;

    - Lỗi của mỗi bên khi vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng...

    Đồng thời, tài sản chung của vợ, chồng được chia theo hiện vật. Nếu không chia theo hiện vật thì chia theo giá trị: Bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

    Ví dụ, căn nhà được mua trả góp và vẫn đang trong thời hạn trả nợ. Nếu hai vợ chồng chia tài sản khi ly hôn thì có thể thực hiện theo 02 phương án sau:

    - Phương án 01: Người vợ hoặc người chồng sẽ nhận được ngôi nhà và có nghĩa vụ trả số tiền chênh lệch cho người còn lại căn cứ vào các nguyên tắc nêu trên;

    - Phương án 02: Hai người hoàn tất việc trả góp, bán căn nhà và chia đôi số tiền có được từ việc bán nhà.

    Nói tóm lại, việc phân chia tài sản trả góp khi ly hôn trước hết cần phải dựa vào thỏa thuận của vợ chồng. Nếu hai bên không thỏa thuận được hoặc không có thỏa thuận, thỏa thuận không hợp pháp vi phạm quy định của pháp luật và trái đạo đức xã hội thì Tòa án giải quyết theo nguyên tắc chia đôi tài sản chung nhưng có xem xét đến các yếu tố đã nêu ở trên, đồng thời nghĩa vụ trả nợ, tiền trả góp mua nhà đó cũng phải chia đôi.

     

    THÔNG TIN LIÊN HỆ

    Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồngsoạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.

     

    VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM

    Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

    Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898

    Website: luatsugioisaigon.com.vn

    Danh mục bài viết

    Bài viết mới