Vợ hoặc chồng không chịu ký đơn ly hôn, Tòa án có giải quyết không?

98S Trần Đại Nghĩa, Phường Tân Tạo, TP. Hồ Chí Minh
0939 858 898
luatsucncvietnam@gmail.com
Vợ hoặc chồng không chịu ký đơn ly hôn, Tòa án có giải quyết không?
Ngày đăng: 30/07/2026

    VỢ HOẶC CHỒNG KHÔNG CHỊU KÝ ĐƠN LY HÔN TÒA ÁN CÓ GIẢI QUYẾT KHÔNG

     

    Ly hôn là quyền nhân thân của vợ, chồng được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, trên thực tế, không ít trường hợp một bên muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân nhưng bên còn lại cố tình không ký đơn ly hôn, không hợp tác hoặc tìm cách kéo dài thời gian giải quyết. Điều này khiến nhiều người lo lắng rằng, nếu thiếu chữ ký của vợ hoặc chồng thì Tòa án sẽ không thụ lý hoặc không thể giải quyết việc ly hôn. Vậy trong trường hợp “Vợ hoặc chồng không chịu ký đơn ly hôn, Tòa án có giải quyết hay không? Việc không ký đơn có đồng nghĩa với việc không thể chấm dứt quan hệ hôn nhân? Bài viết dưới đây sẽ phân tích các quy định của pháp luật hiện hành để giúp bạn hiểu rõ quyền yêu cầu ly hôn cũng như cách xử lý trong từng trường hợp cụ thể. 

     

    VỢ HOẶC CHỒNG KHÔNG CHỊU KÝ ĐƠN LY HÔN TÒA ÁN CÓ GIẢI QUYẾT KHÔNG-1

     

    Vợ hoặc chồng không chịu ký đơn ly hôn, tòa án có giải quyết không?

    Có. Tuy nhiên, việc Tòa án có giải quyết hay không sẽ phụ thuộc vào hình thức ly hôn mà vợ chồng lựa chọn.

    Theo khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ, chồng hoặc cả hai người đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Điều này có nghĩa, quyền yêu cầu ly hôn là quyền nhân thân của mỗi bên trong quan hệ hôn nhân và không phụ thuộc vào việc bên còn lại có đồng ý hay không.

    Trên thực tế, nếu cả hai vợ chồng đều tự nguyện ly hôn thì sẽ thực hiện thủ tục ly hôn thuận tình. Đối với trường hợp này, việc cả hai cùng ký vào đơn yêu cầu là điều kiện để Tòa án xem xét công nhận thuận tình ly hôn. Do đó, nếu một bên không đồng ý hoặc không chịu ký đơn thì không thể giải quyết theo thủ tục thuận tình ly hôn. Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc người còn lại mất quyền yêu cầu ly hôn. Trong trường hợp một bên không đồng ý ly hôn hoặc cố tình không ký đơn, người còn lại vẫn có quyền đơn phương yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

    Cụ thể, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định, khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà việc hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án sẽ xem xét cho ly hôn nếu có căn cứ chứng minh vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho quan hệ hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được.

    Như vậy, việc vợ hoặc chồng không chịu ký đơn ly hôn không phải là căn cứ để Tòa án từ chối giải quyết vụ việc. Nếu người yêu cầu ly hôn chứng minh được quan hệ hôn nhân đã rơi vào tình trạng trầm trọng và đáp ứng các điều kiện theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thì Tòa án vẫn có thể xem xét, giải quyết cho ly hôn theo thủ tục ly hôn theo yêu cầu của một bên, mặc dù bên còn lại không đồng ý hoặc không hợp tác.

    Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp người vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Đây là trường hợp hạn chế quyền yêu cầu ly hôn nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ và trẻ em theo quy định của pháp luật.

     

    Căn cứ để Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn đơn phương:

    Không phải mọi trường hợp một bên yêu cầu ly hôn thì Tòa án đều chấp nhận. Theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà việc hòa giải tại Tòa án không thành, Tòa án chỉ giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ chứng minh vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được.

    Để xác định có hay không việc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, cần căn cứ vào các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo đó, vợ và chồng có nghĩa vụ yêu thương, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; bình đẳng trong mọi mặt của đời sống gia đình; cùng chia sẻ trách nhiệm xây dựng gia đình hạnh phúc, đồng thời tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và các quyền nhân thân hợp pháp của nhau.

    Như vậy, khi một bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ nêu trên, đặc biệt là có hành vi bạo lực gia đình, ngoại tình, thường xuyên xúc phạm danh dự, nhân phẩm, bỏ mặc gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng các nghĩa vụ khác của vợ, chồng thì đây có thể là căn cứ để Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn đơn phương.

    Đáng chú ý, khoản 3 Điều 4 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn cụ thể việc xác định tình trạng hôn nhân trầm trọng theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình. Theo đó, một số dấu hiệu thường gặp bao gồm:

    - Không còn tình nghĩa vợ chồng, như không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; sống ly thân trong thời gian dài hoặc bỏ mặc người còn lại mà không thực hiện nghĩa vụ của vợ, chồng.

    - Có hành vi ngoại tình hoặc duy trì quan hệ tình cảm, quan hệ tình dục với người khác, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quan hệ hôn nhân.

    - Có hành vi xâm phạm đến sức khỏe, danh dự, nhân phẩm hoặc tinh thần của người còn lại, chẳng hạn như đánh đập, hành hạ, chửi bới, lăng mạ, đe dọa hoặc thực hiện các hành vi bạo lực gia đình khác.

    - Không bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giữa vợ và chồng, áp đặt, kiểm soát, cản trở việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ hợp pháp hoặc không cùng nhau xây dựng, phát triển gia đình.

    Những hành vi này nếu diễn ra thường xuyên hoặc kéo dài có thể làm cho quan hệ hôn nhân mất đi nền tảng của sự yêu thương, tôn trọng và tin tưởng lẫn nhau. Đây là cơ sở quan trọng để Tòa án đánh giá hôn nhân đã rơi vào tình trạng trầm trọng.

    Bên cạnh đó, Tòa án cũng sẽ xem xét đời sống chung của vợ chồng có còn khả năng duy trì hay không. Nếu mặc dù đã được gia đình, cơ quan, tổ chức hoặc Tòa án hòa giải nhưng mâu thuẫn vẫn tiếp diễn; các hành vi như ngoại tình, bạo lực gia đình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm hoặc bỏ mặc nhau vẫn tiếp tục xảy ra thì có căn cứ xác định đời sống chung không thể kéo dài, việc đoàn tụ không còn khả năng thực hiện.

    Đồng thời, Tòa án cũng đánh giá mục đích của hôn nhân có còn đạt được hay không. Theo Luật Hôn nhân và gia đình, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, vợ chồng yêu thương, tôn trọng, bình đẳng, quan tâm, chăm sóc và cùng nhau phát triển. Nếu các giá trị này không còn tồn tại, giữa vợ chồng chỉ còn mâu thuẫn, xung đột hoặc thờ ơ với nhau thì có thể xác định mục đích của hôn nhân không đạt được, từ đó làm căn cứ để Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn đơn phương.

    Trước khi Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP được ban hành, các dấu hiệu về "tình trạng hôn nhân trầm trọng", "đời sống chung không thể kéo dài""mục đích hôn nhân không đạt được" từng được hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP. Mặc dù nghị quyết này hiện đã hết hiệu lực, nhưng các tiêu chí được hướng dẫn trước đây vẫn phản ánh khá rõ bản chất của những tình huống mà Tòa án thường xem xét khi đánh giá yêu cầu ly hôn đơn phương và cũng là cơ sở tham khảo trong quá trình nghiên cứu, áp dụng pháp luật.

     

    Trình tự, thủ tục khởi kiện ly hôn đơn phương tại Tòa án được thực hiện như thế nào?

     

    VỢ HOẶC CHỒNG KHÔNG CHỊU KÝ ĐƠN LY HÔN TÒA ÁN CÓ GIẢI QUYẾT KHÔNG-2

     

    Bước 1. Chuẩn bị hồ sơ khởi kiện ly hôn đơn phương

    Theo Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, người yêu cầu ly hôn đơn phương cần chuẩn bị 01 bộ hồ sơ khởi kiện để nộp cho Tòa án có thẩm quyền. Hồ sơ về cơ bản bao gồm các giấy tờ, tài liệu sau:

    Thứ nhất, đơn khởi kiện ly hôn.

    Người khởi kiện lập Đơn khởi kiện theo Mẫu số 23-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Nội dung đơn phải thể hiện đầy đủ các thông tin theo quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bao gồm thông tin của các đương sự, yêu cầu khởi kiện, căn cứ của yêu cầu khởi kiện và danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo.

    Thứ hai, các tài liệu, chứng cứ chứng minh yêu cầu khởi kiện.

    Khi nộp đơn khởi kiện, người khởi kiện có nghĩa vụ gửi kèm các tài liệu, chứng cứ để chứng minh yêu cầu ly hôn là có căn cứ và hợp pháp. Đối với vụ án ly hôn đơn phương, các chứng cứ cần hướng đến việc chứng minh quan hệ hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích của hôn nhân không đạt được theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

    Thông thường, hồ sơ sẽ bao gồm:

    - Căn cước công dân hoặc giấy tờ tùy thân hợp pháp của người khởi kiện;

    - Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

    - Giấy khai sinh của con chung (nếu có);

    - Tài liệu chứng minh quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản nếu có yêu cầu giải quyết về tài sản chung, như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, hợp đồng chuyển nhượng hoặc các giấy tờ có giá trị pháp lý tương đương;

    - Tài liệu, chứng cứ chứng minh căn cứ xin ly hôn, chẳng hạn như tài liệu về hành vi bạo lực gia đình, ngoại tình, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, xác nhận sống ly thân hoặc các chứng cứ hợp pháp khác;

    - Các tài liệu khác có liên quan đến vụ án (nếu có).

    - Trường hợp người khởi kiện ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật thì cần nộp kèm văn bản ủy quyền hợp pháp và giấy tờ tùy thân của người được ủy quyền.

     

    Lưu ý:

    - Các tài liệu nộp kèm đơn khởi kiện nên là bản chính hoặc bản sao được chứng thực hợp lệ, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    - Nếu chưa thể thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ vì lý do khách quan thì người khởi kiện vẫn có thể nộp đơn cùng các tài liệu hiện có để chứng minh yêu cầu khởi kiện. Đồng thời, cần trình bày rõ lý do chưa thể cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ để Tòa án xem xét.

    - Trong quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện có quyền và nghĩa vụ tiếp tục bổ sung tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án hoặc khi tự mình thu thập được thêm tài liệu, chứng cứ mới theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

     

    Bước 2. Nộp đơn khởi kiện:

    Người khởi kiện có thể nộp đơn thông qua các hình thức sau:

    - Nộp trực tiếp tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền

    - Nộp qua đường bưu chính (gửi bưu điện) đến Tòa án nhân dân có thẩm quyền

    - Nộp trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)

     

    Bước 3. Tiếp nhận và thụ lý đơn khởi kiện:

    - Thẩm phán dự tính tiền tạm ứng án phí phải nộp, ghi vào giấy báo và giao cho người khởi kiện. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của Tòa thì người khởi kiện phải nộp tiền tạm ứng án phí tại cơ quan thi hành án dân sự (xem trong giấy báo nếu có), sau khi nộp xong thì nộp lại biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án.

    - Sau khi nhận được biên lai, Thẩm phán thụ lý vụ án và ghi vào sổ thụ lý.

    - Hòa giải: Thủ tục hòa giải tại Tòa án là thủ tục bắt buộc trước khi đưa vụ án ra xét xử trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn.

    + Nếu hòa giải thành: Tòa án lập biên bản hòa giải thành và sau 07 ngày mà các đương sự không thay đổi về ý kiến thì Tòa án ra quyết định công nhận hòa giải thành và quyết định này có hiệu lực ngay và không được kháng cáo kháng nghị.

    + Nếu hòa giải không thành: Tòa án cũng phải lập biên bản hòa giải không thành sau đó ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.

     

    Bước 4. Chuẩn bị xét xử sơ thẩm:

    Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm không quá 04 tháng, vụ án phức tạp được gia hạn không quá 02 tháng (theo Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015).

     

    Bước 5. Xét xử sơ thẩm:

    Nếu vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc đình chỉ thì Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử.

    Sau khi xét xử có thể xảy ra một số trường hợp như: Kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm; giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

    Nếu không có kháng cáo, kháng nghị hoặc giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì bản án sẽ có hiệu lực. Ngay cả khi bản án có hiệu lực thì không phải trường hợp nào người thua kiện cũng tự nguyện chấp hành mà phải yêu cầu thi hành án (nộp phí thi hành án và đề nghị cơ quan thi hành án dân sự thi hành bản án).

     

     

     

    THÔNG TIN LIÊN HỆ

    Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồngsoạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.

     

    VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM

    Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

    Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898

    Website: luatsugioisaigon.com.vn

    Danh mục bài viết

    Bài viết mới