
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, có những trường hợp nếu không kịp thời áp dụng các biện pháp bảo vệ thì quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể không được đảm bảo trong quá trình giải quyết vụ án cũng như sau khi có bản án/quyết định của Tòa án. Chính vì vậy, pháp luật tố tụng dân sự cho phép Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nhằm giải quyết những tình huống cấp bách phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án.
Bài viết dưới đây của Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Bình Tân sẽ giúp cô chú, anh chị và các bạn hiểu rõ biện pháp khẩn cấp tạm thời là gì, các biện pháp được áp dụng, điều kiện áp dụng và trách nhiệm khi yêu cầu áp dụng không đúng.

Biện pháp khẩn cấp tạm thời là gì?
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, biện pháp khẩn cấp tạm thời là những biện pháp do Tòa án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án dân sự nhằm giải quyết kịp thời các yêu cầu cấp bách của đương sự.
Việc áp dụng các biện pháp này nhằm các mục đích như:
- Bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản của đương sự;
- Bảo vệ và thu thập chứng cứ, tránh việc chứng cứ bị tiêu hủy hoặc thay đổi;
- Giữ nguyên hiện trạng tài sản hoặc quan hệ đang tranh chấp;
- Ngăn chặn thiệt hại không thể khắc phục được;
- Bảo đảm cho việc thi hành án sau này.
Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khởi kiện đều có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời khi cần thiết.
Các biện pháp khẩn cấp tạm thời được quy định trong tố tụng dân sự
Theo Điều 114 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Tòa án có thể áp dụng nhiều loại biện pháp khẩn cấp tạm thời khác nhau tùy từng vụ việc. Hiện nay, theo quy định có 16 biện pháp khẩn cấp tạm thời chính, bao gồm các biện pháp như sau:
1. Giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cho cá nhân hoặc tổ chức trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
2. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng.
3. Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khoẻ bị xâm phạm.
4. Buộc người sử dụng lao động tạm ứng tiền lương, tiền bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chi phí cứu chữa tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp, tiền bồi thường, trợ cấp tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp cho người lao động.
5. Tạm đình chỉ thi hành quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, quyết định sa thải người lao động.
6. Kê biên tài sản đang tranh chấp.
7. Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp.
8. Cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp.
9. Cho thu hoạch, cho bán hoa màu hoặc sản phẩm, hàng hóa khác.
10. Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng khác, kho bạc nhà nước; phong tỏa tài sản ở nơi gửi giữ.
11. Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ.
12. Cấm hoặc buộc thực hiện hành vi nhất định.
13. Cấm xuất cảnh đối với người có nghĩa vụ.
14. Cấm tiếp xúc với nạn nhân bạo lực gia đình.
15. Tạm dừng việc đóng thầu và các hoạt động có liên quan đến việc đấu thầu.
16. Bắt giữ tàu bay, tàu biển để bảo đảm giải quyết vụ án.
Ngoài ra, Bộ luật Tố tụng Dân sự cũng cho phép Tòa án áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời khác mà luật có quy định tùy vào từng vụ việc cụ thể (khoản 17 Điều trên). Nhìn chung, có thể phân loại các biện pháp thành những nhóm sau đây:
- Kê biên tài sản đang tranh chấp
- Cấm chuyển dịch quyền về tài sản đối với tài sản đang tranh chấp
- Phong tỏa tài khoản tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng
- Phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ
- Cấm thực hiện hành vi nhất định
- Buộc thực hiện trước một phần nghĩa vụ cấp dưỡng
- Buộc giao người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự cho cá nhân hoặc tổ chức chăm sóc
Việc áp dụng biện pháp nào sẽ phụ thuộc vào tính chất tranh chấp và yêu cầu của đương sự.
Điều kiện để Tòa án chấp nhận yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời

Theo Điều 133 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 thì: Người yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải làm đơn gửi đến Tòa án có thẩm quyền. Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn;
b) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
c) Tên, địa chỉ; số điện thoại, fax, địa chỉ thư điện tử (nếu có) của người bị yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
d) Tóm tắt nội dung tranh chấp hoặc hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
đ) Lý do cần phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời;
e) Biện pháp khẩn cấp tạm thời cần được áp dụng và các yêu cầu cụ thể.
Tùy theo yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời mà người yêu cầu phải cung cấp cho Tòa án chứng cứ để chứng minh cho sự cần thiết phải áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đó.
Cần lưu ý rằng: Không phải mọi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đều được Tòa án chấp nhận. Người yêu cầu phải chứng minh rằng:
- Có tình huống cấp bách cần giải quyết ngay;
- Nếu không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì quyền và lợi ích hợp pháp của mình có thể bị xâm hại hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng;
- Việc áp dụng biện pháp là cần thiết để bảo vệ chứng cứ, tài sản hoặc bảo đảm thi hành án.
Ngoài ra, theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, trong một số trường hợp người yêu cầu phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng cách nộp tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá.
Điều 13 Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ngày 24/9/2020 hướng dẫn áp dụng một số quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm quy định tại khoản 1 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng dân sự như sau:
Để ấn định một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá tương đương với tổn thất hoặc thiệt hại có thể phát sinh do hậu quả của việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng thì Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử phải dự kiến và tạm tính có tính chất tương đối thiệt hại thực tế có thể xảy ra nhưng không thấp hơn 20% giá trị tạm tính của tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, trừ trường hợp có chứng cứ rõ ràng chứng minh tổn thất hoặc thiệt hại thấp hơn 20% giá trị tạm tính của tài sản bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Việc dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra tùy thuộc vào từng biện pháp khẩn cấp tạm thời cụ thể, từng trường hợp cụ thể và được thực hiện như sau:
a) Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử đề nghị người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra. Trường hợp hỏi ý kiến của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được hướng dẫn tại khoản 1 Điều 10 Nghị quyết này thì đề nghị họ dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra;
b) Dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra phải được lập thành văn bản, trong đó cần nêu rõ các khoản thiệt hại và mức thiệt hại có thể xảy ra, các căn cứ, cơ sở của việc dự kiến và tạm tính đó; nếu tại phiên tòa thì không phải lập thành văn bản nhưng phải ghi vào biên bản phiên tòa;
c) Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử xem xét các dự kiến và tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra, căn cứ vào các quy định của các văn bản quy phạm pháp luật liên quan để ấn định một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá và buộc người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thực hiện biện pháp bảo đảm.
Ví dụ: Anh A đang chiếm giữ một chiếc xe ôtô tải, anh B cho rằng chiếc xe đó thuộc sở hữu của hai người (A và B). Anh B cho rằng anh A có ý định bán chiếc xe ôtô đó nên đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời kê biên tài sản đang tranh chấp là chiếc xe ôtô tải. Sau khi anh A dự kiến, tạm tính thiệt hại thực tế có thể xảy ra do áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng (nếu sau này Tòa án quyết định chiếc xe ôtô đó thuộc quyền sở hữu của anh A), việc ấn định một khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá phải tùy từng trường hợp cụ thể như sau:
Trường hợp anh B có căn cứ cho rằng anh A bán chiếc xe ôtô đó (có bản sao hợp đồng mua bán) thì căn cứ vào hợp đồng mua bán, các quy định của pháp luật về hợp đồng mua bán để ấn định. Giả sử trong hợp đồng có tiền đặt cọc mà quá hạn không giao ôtô thì bên mua không mua, bên bán phải trả cho bên mua tiền đặt cọc và một khoản tiền bằng tiền đặt cọc; nếu ôtô bị kê biên vẫn giao cho anh A quản lý, sử dụng thì thiệt hại thực tế có thể xảy ra chỉ là khoản tiền bằng tiền đặt cọc; nếu ôtô bị kê biên được giao cho người thứ ba bảo quản thì thiệt hại thực tế có thể xảy ra còn bao gồm tiền trả thù lao, thanh toán chi phí bảo quản cho người bảo quản và thiệt hại do không khai thác công dụng ôtô.
Trường hợp anh B chỉ có các thông tin là anh A đang muốn bán ôtô và ôtô bị kê biên được giao cho người thứ ba quản lý thì thiệt hại thực tế có thể xảy ra bao gồm tiền trả thù lao, thanh toán chi phí bảo quản cho người bảo quản và thiệt hại do không khai thác công dụng ôtô; nếu ôtô bị kê biên vẫn giao cho anh A quản lý, sử dụng thì có thể không có thiệt hại thực tế xảy ra.
Ngoài ra, theo hướng dẫn tại Điều 14 của Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao ngày 24/9/2020 hướng dẫn áp dụng một số quy định về biện pháp khẩn cấp tạm thời của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về buộc thực hiện biện pháp bảo đảm là khoản tiền, kim khí quý, đá quý hoặc giấy tờ có giá quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì :
- Khoản tiền hoặc tài sản dùng để bảo đảm phải được gửi vào tài khoản phong tỏa tại ngân hàng nơi Tòa án ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đặt trụ sở.
- Trường hợp địa phương có nhiều ngân hàng, người phải thực hiện biện pháp bảo đảm có quyền lựa chọn ngân hàng và thông báo cho Tòa án để ra quyết định phong tỏa.
- Nếu người phải thực hiện bảo đảm đã có tài khoản hoặc tài sản gửi tại ngân hàng, họ có thể đề nghị phong tỏa một phần tài khoản hoặc tài sản tương ứng với nghĩa vụ tài sản của mình, và Tòa án có thể chấp nhận đề nghị này.
Nguyên tắc xác định giá trị tài sản khi phong tỏa tài khoản, tài sản
Việc phong tỏa tài khoản hoặc tài sản của người có nghĩa vụ phải tuân thủ nguyên tắc xác định giá trị tài sản tương đương với nghĩa vụ tài sản theo hướng dẫn tại Điều 12 của Nghị quyết 02/2020/NQ-HĐTP. Cụ thể, căn cứ xác định nghĩa vụ tài sản được quy định như sau:
Nghĩa vụ tài sản của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được xác định dựa trên:
- Đơn khởi kiện của nguyên đơn
- Đơn phản tố của bị đơn (nếu có)
- Đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Giá trị tài sản phong tỏa không được vượt quá nghĩa vụ tài sản. Tòa án chỉ được phong tỏa tài khoản hoặc tài sản có giá trị bằng hoặc thấp hơn nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải thực hiện.
Người yêu cầu áp dụng biện pháp có nghĩa vụ:
- Chứng minh giá trị tài khoản hoặc tài sản cần phong tỏa
- Chịu trách nhiệm về tính trung thực của tài liệu, chứng cứ cung cấp
Tòa án sẽ căn cứ vào tài liệu, chứng cứ và quy định pháp luật liên quan để xác định giá trị tài sản bị phong tỏa.
Lưu ý: Trường hợp tài sản bị yêu cầu phong tỏa là tài sản không thể phân chia được (không thể phong tỏa một phần tài sản) có giá trị cao hơn nghĩa vụ tài sản mà người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có nghĩa vụ phải thực hiện theo đơn khởi kiện, Tòa án giải thích cho người yêu cầu biết để họ làm đơn yêu cầu áp dụng phong tỏa tài sản khác hoặc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác. Nếu họ vẫn giữ nguyên đơn yêu cầu, Tòa án căn cứ vào khoản 4 Điều 133 của Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của họ.
Trách nhiệm bồi thường khi yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng
Pháp luật cũng quy định rõ trách nhiệm trong trường hợp việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời gây thiệt hại.
Theo Điều 113 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:
- Người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải chịu trách nhiệm về yêu cầu của mình.
- Nếu yêu cầu đó không đúng và gây thiệt hại cho người bị áp dụng hoặc người thứ ba, thì người yêu cầu phải bồi thường thiệt hại.
Bên cạnh đó, nếu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng, chẳng hạn như:
- Tự mình áp dụng không đúng,
- Áp dụng vượt quá yêu cầu của đương sự,
- Áp dụng sai biện pháp hoặc không đúng thời hạn,
Và việc áp dụng này gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức liên quan thì Nhà nước phải thực hiện trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật.
Biện pháp khẩn cấp tạm thời là công cụ pháp lý quan trọng giúp bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự. Tuy nhiên, việc yêu cầu áp dụng biện pháp này cần được cân nhắc kỹ lưỡng, bởi nếu yêu cầu không đúng và gây thiệt hại thì người yêu cầu có thể phải chịu trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồng, soạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.
VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM
Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh
Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898
Website: luatsugioisaigon.com.vn







