Phụ nữ say rượu, bia bị cưỡng hiếp: có thể khởi tố tội hiếp dâm không?

98S Trần Đại Nghĩa, Phường Tân Tạo, TP. Hồ Chí Minh
0939 858 898
luatsucncvietnam@gmail.com
Phụ nữ say rượu, bia bị cưỡng hiếp: có thể khởi tố tội hiếp dâm không?
Ngày đăng: 15/10/2026

    Một cô gái đã trên 18 tuổi, sau khi uống rượu, bia đến mức say xỉn, không còn khả năng chống cự và bị một người đàn ông quan hệ tình dục trái ý muốn. Trong trường hợp này, người thực hiện hành vi có thể bị khởi tố về tội hiếp dâm hay không? Pháp luật hình sự quy định như thế nào đối với hành vi lợi dụng tình trạng say rượu, bia khiến nạn nhân không thể tự vệ để thực hiện hành vi tình dục? Hãy cùng phân tích các quy định pháp luật liên quan để làm rõ vấn đề này.

     

    Phụ nữ say rượu bia bị cưỡng hiếp có thể khởi tố tội hiếp dâm không-1

     

    Khi nào cấu thành tội hiếp dâm theo quy định pháp luật?

    Theo khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, tội hiếp dâm được quy định như sau:

    “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.”

    Để xác định một hành vi có cấu thành tội hiếp dâm hay không, cần xem xét đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật, cụ thể như sau:

     

    Thứ nhất, về khách thể của tội phạm

    Tội hiếp dâm xâm phạm đến xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Đây là những quyền nhân thân được pháp luật bảo vệ, theo đó mỗi cá nhân có quyền tự quyết định đối với việc quan hệ tình dục của mình và không ai được phép thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái với ý muốn của người khác bằng các phương thức được pháp luật hình sự quy định (đối tượng tác động có thể là nam hoặc nữ).

     

    Thứ hai, về mặt khách quan của tội phạm

    Hành vi: Có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân.

    Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP, giao cấu là hành vi xâm nhập của bộ phận sinh dục nam vào bộ phận sinh dục nữ với bất kỳ mức độ xâm nhập nào. Hành vi quan hệ tình dục khác bao gồm những hành vi xâm nhập bộ phận sinh dục nam vào miệng hoặc hậu môn của người khác; sử dụng bộ phận cơ thể như ngón tay, ngón chân, lưỡi hoặc dụng cụ tình dục xâm nhập vào bộ phận sinh dục hoặc hậu môn của người khác theo hướng dẫn tại Nghị quyết này.

    Như vậy, việc xác định mặt khách quan của tội hiếp dâm không chỉ dừng lại ở việc có xảy ra hành vi quan hệ tình dục hay không, mà còn phải làm rõ phương thức thực hiện hành vi và tính chất trái với ý muốn của nạn nhân.

     

    Thứ ba, về chủ thể của tội phạm

    Chủ thể của tội hiếp dâm là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đáp ứng điều kiện về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự. Cụ thể, cần đối chiếu Điều 12 Bộ luật Hình sự với khoản tương ứng của Điều 141 để xác định điều kiện về tuổi đối với từng trường hợp phạm tội.

     

    Thứ tư, về mặt chủ quan của tội phạm

    Tội hiếp dâm được thực hiện với lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức được tính chất của hành vi mình thực hiện nhưng vẫn thực hiện hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân thông qua phương thức được quy định tại Điều 141 Bộ luật Hình sự.

    Việc đánh giá yếu tố lỗi cần căn cứ vào nhận thức, ý thức của người thực hiện hành vi và các tình tiết cụ thể của vụ việc, không thể chỉ dựa vào lời khai của một bên để đưa ra kết luận.

    Tóm lại, để xác định một người có phạm tội hiếp dâm hay không, cần xem xét đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm nêu trên, đồng thời đối chiếu với chứng cứ và tình tiết thực tế của vụ việc. Việc xác định chính xác tội danh phải dựa trên quy định của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn áp dụng pháp luật có liên quan.

     

    Phụ nữ say rượu bia bị cưỡng hiếp có thể khởi tố tội hiếp dâm không

     

    Phụ nữ say rượu, bia bị cưỡng hiếp: Có thể khởi tố tội hiếp dâm không?

    Từ những dấu hiệu cấu thành tội hiếp dâm nêu trên, có thể thấy, việc xác định tội danh không chỉ phụ thuộc vào việc nạn nhân có đồng ý quan hệ tình dục hay không, mà còn phải xem xét tình trạng của nạn nhân tại thời điểm xảy ra sự việc và phương thức mà người thực hiện hành vi đã sử dụng. Vậy, trường hợp một cô gái đã trên 18 tuổi, uống rượu, bia đến mức không thể chống cự và bị người đàn ông quan hệ tình dục trái ý muốn thì có thể bị khởi tố về tội hiếp dâm hay không?

    Căn cứ khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, một trong những hành vi cấu thành tội hiếp dâm là lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân.

    Bên cạnh đó, điểm b khoản 7 Điều 3 Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn về tình tiết lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân như sau: “7. Lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân quy định tại khoản 1 Điều 141 và khoản 1 Điều 142 của Bộ luật Hình sự là việc người phạm tội lợi dụng tình trạng người bị hại lâm vào một trong những hoàn cảnh sau đây để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác:

    a) Ngưòi bị hại không thể chống cự được (ví dụ: người bị hại bị tai nạn, bị ngất, bị trói, bị khuyết tật... dẫn đến không thể chống cự được);

    b) Người bị hại bị hạn chế hoặc bị mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi (ví dụ: người bị hại bị say rượu, bia, thuốc ngủ, thuốc gây mê, ma túy, thuốc an thần, thuốc kích thích, các chất kích thích khác, bị bệnh tâm thần hoặc bị bệnh khác... dẫn đến hạn chế hoặc mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi).”

    Theo đó, pháp luật hình sự đã ghi nhận tình trạng say rượu, bia dẫn đến hạn chế hoặc mất khả năng nhận thức, khả năng điều khiển hành vi là một trong những trường hợp có thể làm phát sinh tình tiết lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân. Vì vậy, nếu người đàn ông biết hoặc nhận thức được tình trạng của cô gái nhưng vẫn lợi dụng tình trạng đó để thực hiện hành vi giao cấu hoặc hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của cô gái, thì hành vi này có thể bị xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm theo Điều 141 Bộ luật Hình sự.

    Đáng lưu ý, việc cô gái đã đủ 18 tuổi không đồng nghĩa với việc người khác được quyền quan hệ tình dục với cô trong mọi hoàn cảnh. Tuổi thành niên không loại trừ khả năng một người trở thành nạn nhân của tội hiếp dâm nếu họ rơi vào tình trạng không thể tự vệ theo quy định pháp luật.

    Tuy nhiên, cũng cần phân biệt rằng không phải mọi trường hợp uống rượu, bia rồi quan hệ tình dục đều cấu thành tội hiếp dâm. Cơ quan có thẩm quyền cần làm rõ mức độ say của nạn nhân, khả năng nhận thức và điều khiển hành vi tại thời điểm xảy ra sự việc, ý chí của nạn nhân, hành vi của người bị tố giác và các chứng cứ liên quan. Trên cơ sở đó mới có thể xác định có đủ căn cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội hiếp dâm hay không.

     

    Quan hệ tình dục trái ý muốn khi người khác say rượu, có thể đối mặt bao nhiêu năm tù?

    Căn cứ Điều 141 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, người có hành vi hiếp dâm có thể phải chịu các mức hình phạt tùy thuộc vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi và những tình tiết cụ thể của vụ án. Cụ thể như sau:

     

    Khung 1:  Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

    Theo khoản 1 Điều 141 Bộ luật Hình sự, người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc sử dụng thủ đoạn khác để giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác trái với ý muốn của nạn nhân, thì có thể bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

     

    Khung 2: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

    Theo khoản 2 Điều 141 Bộ luật Hình sự, người phạm tội hiếp dâm thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

    - Có tổ chức: Hành vi phạm tội được thực hiện có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng tham gia, thể hiện sự phối hợp trong việc thực hiện tội phạm.

    - Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh: Người phạm tội thực hiện hành vi hiếp dâm đối với người thuộc phạm vi trách nhiệm chăm sóc, giáo dục hoặc chữa bệnh của mình.

    - Nhiều người hiếp một người: Có từ hai người trở lên cùng thực hiện hành vi hiếp dâm đối với một nạn nhân. Trường hợp nhiều người đã bàn bạc, thống nhất sẽ thay nhau hiếp dâm một người nhưng vì nguyên nhân ngoài ý muốn chỉ có một người thực hiện được hành vi cũng có thể thuộc trường hợp này theo hướng dẫn pháp luật.

    - Phạm tội 02 lần trở lên: Người phạm tội đã thực hiện hành vi hiếp dâm từ hai lần trở lên và mỗi lần đều có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm, nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các lần phạm tội đó và vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định.

    - Đối với 02 người trở lên: Người phạm tội thực hiện hành vi hiếp dâm đối với từ hai nạn nhân trở lên.

    - Có tính chất loạn luân: Hành vi hiếp dâm được thực hiện trong những quan hệ gia đình, huyết thống hoặc quan hệ nhân thân thuộc trường hợp loạn luân theo quy định và hướng dẫn của pháp luật hình sự.

    - Làm nạn nhân có thai: Hành vi hiếp dâm dẫn đến việc nạn nhân mang thai.

    - Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%: Hành vi phạm tội gây ra hậu quả thuộc mức độ được quy định tại điểm h khoản 2 Điều 141.

    - Tái phạm nguy hiểm: Người phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại Bộ luật Hình sự.

    Đối với tình tiết có tính chất loạn luân, cần xem xét cụ thể mối quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP, trường hợp này bao gồm những quan hệ như người cùng dòng máu về trực hệ; anh, chị, em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha; cô, dì, chú, bác, cậu ruột với cháu ruột; cha nuôi, mẹ nuôi với con nuôi; cha dượng, mẹ kế với con riêng của vợ hoặc chồng; bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể và các quan hệ được hướng dẫn cụ thể tại Nghị quyết.

     

    Khung 3: Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

    Khoản 3 Điều 141 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt nặng hơn đối với trường hợp phạm tội có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, bao gồm:

    - Gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe hoặc gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên: Hậu quả đối với sức khỏe thể chất hoặc tinh thần của nạn nhân đạt mức độ nghiêm trọng theo quy định.

    - Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội: Người phạm tội biết rõ tình trạng nhiễm HIV của bản thân nhưng vẫn thực hiện hành vi hiếp dâm.

    - Làm nạn nhân chết hoặc tự sát: Hành vi phạm tội dẫn đến hậu quả nạn nhân tử vong hoặc tự sát và đáp ứng các điều kiện xác định trách nhiệm hình sự theo quy định pháp luật.

    Khi có một trong các tình tiết nêu trên, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân, tùy thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi và các căn cứ quyết định hình phạt.

     

    Lưu ý: Trường hợp phạm tội đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.

    Khoản 4 Điều 141 Bộ luật Hình sự quy định người phạm tội hiếp dâm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm. Nếu hành vi đồng thời thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 141, người phạm tội sẽ bị áp dụng mức hình phạt tương ứng với khung tăng nặng được quy định tại các khoản này.

     

    Hình phạt bổ sung.

    Ngoài hình phạt chính, theo khoản 5 Điều 141 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

    Như vậy, tùy thuộc vào tình tiết của vụ án, người phạm tội hiếp dâm có thể phải chịu hình phạt từ 02 năm tù đến tù chung thân. Đối với trường hợp lợi dụng tình trạng say rượu, bia của nạn nhân để thực hiện hành vi quan hệ tình dục trái ý muốn, mức hình phạt không được xác định chỉ dựa vào việc nạn nhân có say hay không, mà còn phải căn cứ vào các tình tiết định khung, hậu quả xảy ra và những quy định pháp luật có liên quan.

     

     

     

     

    THÔNG TIN LIÊN HỆ

    Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồng, soạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.

     

    VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM

    Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

    Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898

    Danh mục bài viết

    Bài viết mới