Người phạm tội chết có được khởi tố vụ án hình sự và yêu cầu bồi thường được không?

98S Trần Đại Nghĩa, Phường Tân Tạo, TP. Hồ Chí Minh
0939 858 898
luatsucncvietnam@gmail.com
Người phạm tội chết có được khởi tố vụ án hình sự và yêu cầu bồi thường được không?
Ngày đăng: 01/10/2026

    Trong thực tiễn giải quyết các vụ việc có dấu hiệu tội phạm, không ít trường hợp người thực hiện hành vi đã chết trước hoặc sau khi cơ quan có thẩm quyền xem xét khởi tố vụ án hình sự. Khi đó, một vấn đề pháp lý đặt ra là: người đã chết có còn là căn cứ để khởi tố, điều tra, truy cứu trách nhiệm hình sự hay không; đồng thời, nếu hành vi của họ gây thiệt hại thì người bị thiệt hại có còn quyền yêu cầu bồi thường hay không và trách nhiệm bồi thường được giải quyết như thế nào? Để xác định chính xác hướng giải quyết, cần làm rõ quy định của pháp luật hình sự về trường hợp người thực hiện hành vi đã chết, thời điểm và điều kiện khởi tố vụ án hình sự, đồng thời xem xét quy định của pháp luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và phạm vi nghĩa vụ tài sản có thể được tiếp tục thực hiện sau khi người gây thiệt hại chết.  Hãy cùng theo dõi bài viết bên dưới của chúng tôi để làm rõ vấn đề này nhé.

     

    NGƯỜI PHẠM TỘI CHẾT CÓ ĐƯỢC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG ĐƯỢC KHÔNG-luatsugioisaigon

     

    Người phạm tội chết có được khởi tố vụ án hình sự không?

    Căn cứ Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 4 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự 2021, pháp luật quy định các trường hợp không được khởi tố vụ án hình sự, trong đó có trường hợp:

    “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết, trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác.”

    Quy định này cho thấy, khi xem xét việc khởi tố vụ án hình sự, pháp luật không chỉ căn cứ vào việc hành vi có dấu hiệu tội phạm hay không mà còn phải xem xét tình trạng của người đã thực hiện hành vi. Theo đó, nếu người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết thì đây là một trong những căn cứ để không khởi tố vụ án hình sự. Sở dĩ pháp luật quy định như trên là bởi trách nhiệm hình sự gắn với chính cá nhân thực hiện hành vi phạm tội. Khi người thực hiện hành vi đã chết, việc tiếp tục khởi tố, điều tra để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chính người đó không còn ý nghĩa về mặt xử lý trách nhiệm hình sự. Do đó, pháp luật tố tụng hình sự xác định đây là căn cứ không khởi tố vụ án.

    Tuy nhiên, quy định này có một ngoại lệ, đó là “trừ trường hợp cần tái thẩm đối với người khác”. Vì vậy, không thể hiểu một cách tuyệt đối rằng cứ người thực hiện hành vi đã chết thì trong mọi trường hợp vụ án đều không được khởi tố hoặc mọi hoạt động tố tụng liên quan đều phải chấm dứt. Trường hợp việc xem xét hành vi của người đã chết là cần thiết cho việc tái thẩm đối với một người khác thì vẫn có thể được xem xét theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

    Như vậy, về nguyên tắc, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết thì không được khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi của người đó. Chỉ trong trường hợp cần thiết để thực hiện việc tái thẩm đối với người khác thì mới thuộc trường hợp ngoại lệ mà pháp luật cho phép tiếp tục xem xét.

     

    Người phạm tội chết có phải bồi thường thiệt hại không?

    Việc người thực hiện hành vi phạm tội đã chết và không còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự không đồng nghĩa với việc thiệt hại do hành vi của người đó gây ra đương nhiên không được bồi thường. Để xác định vấn đề này, cần phân biệt giữa trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại.

    Căn cứ Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015, người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự hoặc luật khác có liên quan quy định khác. Đồng thời, người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu thiệt hại phát sinh do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

    Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại về nguyên tắc được xác định dựa trên hành vi gây thiệt hại và hậu quả thiệt hại thực tế phát sinh, chứ không phụ thuộc hoàn toàn vào việc người thực hiện hành vi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không. Do đó, trường hợp người thực hiện hành vi đã chết thì cần tiếp tục xem xét trách nhiệm dân sự phát sinh từ hành vi gây thiệt hại của người đó.

    Đối với nghĩa vụ bồi thường của người đã chết, Điều 615 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại. Theo đó, những người hưởng thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết trong phạm vi di sản do người chết để lại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp di sản chưa được chia, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại được người quản lý di sản thực hiện theo thỏa thuận của những người thừa kế trong phạm vi di sản. Trường hợp di sản đã được chia thì mỗi người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản tương ứng nhưng không vượt quá phần tài sản mà mình đã nhận, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

    Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong trường hợp người phạm tội duy nhất đã chết. Bởi lẽ, những người thừa kế không đương nhiên trở thành người có lỗi hoặc phải chịu trách nhiệm thay cho hành vi phạm tội của người đã chết. Nghĩa vụ mà họ phải thực hiện là nghĩa vụ tài sản của người chết để lại, trong đó có thể bao gồm nghĩa vụ bồi thường thiệt hại, và trách nhiệm này được giới hạn trong phạm vi di sản mà người chết để lại.

    Như vậy, trường hợp người phạm tội duy nhất đã chết thì không đặt ra việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đó, nhưng nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về dân sự vẫn có thể được xem xét. Nếu người chết có để lại di sản thì nghĩa vụ bồi thường được thực hiện bằng di sản đó; những người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết trong phạm vi di sản mà họ được hưởng, chứ không phải lấy tài sản riêng của mình để bồi thường thay cho người đã chết.

     

    NGƯỜI PHẠM TỘI CHẾT CÓ ĐƯỢC KHỞI TỐ VỤ ÁN HÌNH SỰ VÀ YÊU CẦU BỒI THƯỜNG ĐƯỢC KHÔNG-luatsugioisaigon-1

     

    Người bị thiệt hại phải làm gì để yêu cầu bồi thường?

    Mặc dù người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đã chết và không thuộc trường hợp bị khởi tố vụ án hình sự, người bị thiệt hại vẫn có quyền yêu cầu giải quyết trách nhiệm bồi thường nếu có căn cứ xác định hành vi của người đã chết gây ra thiệt hại cho mình. Khi đó, việc yêu cầu bồi thường được xem xét theo quy định của pháp luật dân sự, độc lập với việc có truy cứu trách nhiệm hình sự hay không.

    Căn cứ Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015, thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường cũng như phương thức thực hiện việc bồi thường, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Theo đó, trước hết, người bị thiệt hại cần xác định và cung cấp các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi gây thiệt hại, thiệt hại thực tế xảy ra và mối quan hệ giữa hành vi đó với thiệt hại. Đồng thời, trong trường hợp người gây thiệt hại đã chết, cần xác định di sản do người đó để lại và người đang quản lý di sản hoặc những người hưởng thừa kế để làm cơ sở xác định việc thực hiện nghĩa vụ tài sản.

    Trường hợp các bên có thể thỏa thuận được thì việc bồi thường có thể được thực hiện theo thỏa thuận. Tuy nhiên, nếu không thỏa thuận được hoặc phát sinh tranh chấp về trách nhiệm bồi thường, mức thiệt hại, phạm vi di sản hoặc việc thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết thì người bị thiệt hại có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

    Đáng lưu ý, người bị thiệt hại cần thực hiện quyền yêu cầu trong thời hạn luật định. Theo Điều 588 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là 03 năm kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

    Như vậy, khi người phạm tội duy nhất đã chết, người bị thiệt hại không phải yêu cầu người thân của người đã chết bồi thường bằng tài sản riêng của họ. Thay vào đó, cần xác định căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường, mức thiệt hại, di sản của người chết và người có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản. Trên cơ sở đó, người bị thiệt hại có thể yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bồi thường trong phạm vi di sản theo quy định của Bộ luật Dân sự; trường hợp không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

     

     

    THÔNG TIN LIÊN HỆ

    Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồng, soạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.

     

    VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM

    Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

    Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898

    Danh mục bài viết

    Bài viết mới