Người khác gây tai nạn giao thông, mình không xử lý kịp làm chết người: có phạm tội?

98S Trần Đại Nghĩa, Phường Tân Tạo, TP. Hồ Chí Minh
0939 858 898
luatsucncvietnam@gmail.com
Người khác gây tai nạn giao thông, mình không xử lý kịp làm chết người: có phạm tội?
Ngày đăng: 23/05/2026

    Nguoi-khac-gay-tai-nan-minh-khong-xu-ly-kip-lam-chet-nguoi-co-bi-truy-cuu-trach-nhiem-hinh-su-khong

     

    Trong thực tế, không ít trường hợp người điều khiển phương tiện không phải là người gây ra vụ tai nạn ban đầu, nhưng do không xử lý kịp tình huống, không tránh được vật cản hoặc nạn nhân nằm trên đường dẫn đến hậu quả chết người. Vậy trong trường hợp này, người “đi sau” có bị xem là phạm tội hay không? Có phải chịu trách nhiệm hình sự dù không phải người trực tiếp gây ra tai nạn ban đầu? Hãy cùng chúng tôi làm rõ quy định pháp luật hiện hành trong bài viết dưới đây.

     

    Gây tai nạn giao thông, khi nào phải chịu trách nhiệm hình sự?

    Không phải mọi trường hợp xảy ra tai nạn giao thông đều bị xử lý hình sự. Trên thực tế, để một người bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi gây tai nạn giao thông thì ngoài việc có hậu quả xảy ra, còn phải có hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ và có lỗi của người điều khiển phương tiện.

    Theo Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người tham gia giao thông đường bộ vi phạm quy định về an toàn giao thông và gây thiệt hại cho người khác thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

    Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

    1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

    a) Làm chết người;

    b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

    c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

    d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

    a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

    b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

    c) Bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

    d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

    đ) Làm chết 02 người;

    e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

    g) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

    a) Làm chết 03 người trở lên;

    b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

    c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

    4. Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ trong trường hợp có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả quy định tại một trong các điểm a, b và c khoản 3 Điều này nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

    5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”.

    Theo đó, một người vi phạm các quy định về tham gia giao thông đường bộ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây thiệt hại về tài sản hoặc người với mức độ như sau:

    - Làm chết người;

    - Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

    - Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

    - Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
    Ngoài ra, pháp luật còn xử lý cả trường hợp vi phạm quy định giao thông nhưng chưa gây hậu quả, tuy nhiên có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời.

    Như vậy, không phải cứ xảy ra tai nạn giao thông hoặc có người tử vong là mặc nhiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan tiến hành tố tụng còn phải xem xét người điều khiển phương tiện có vi phạm quy định an toàn giao thông hay không, có lỗi hay không và hành vi đó có phải nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả xảy ra hay không. Đây cũng chính là yếu tố quan trọng để xác định trách nhiệm trong trường hợp người khác gây tai nạn trước, còn mình là người đi sau nhưng không xử lý kịp dẫn đến hậu quả chết người.

     

    Người khác gây tai nạn, mình không xử lý kịp làm chết người: có phạm tội?

    Như đã phân tích ở trên, không phải cứ xảy ra tai nạn giao thông hoặc có người tử vong là mặc nhiên bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc người đi phía sau không xử lý kịp dẫn đến cán trúng nạn nhân tử vong có phạm tội hay không còn phụ thuộc vào việc người đó có vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ hay không và mức độ lỗi thực tế trong vụ việc.

    Theo đó, cơ quan điều tra sẽ tiến hành khám nghiệm hiện trường, trích xuất camera, xác định tốc độ, khoảng cách an toàn, điều kiện ánh sáng, khả năng quan sát, dấu vết phanh, lời khai nhân chứng… để làm rõ nguyên nhân vụ tai nạn và xác định trách nhiệm của từng bên. Tùy từng trường hợp cụ thể có thể xảy ra các khả năng sau:

     

     Nguoi-khac-gay-tai-nan-minh-khong-xu-ly-kip-lam-chet-nguoi-co-bi-truy-cuu-trach-nhiem-hinh-su-khong-1

     

    Trường hợp thứ nhất: Có vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ

    Nếu cơ quan điều tra xác định người điều khiển phương tiện có hành vi vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ như chạy quá tốc độ, không chú ý quan sát, không giữ khoảng cách an toàn, sử dụng rượu bia, đi sai làn đường… và hành vi vi phạm này là nguyên nhân dẫn đến hậu quả chết người, thì dù là vô ý, người đó vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 260 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

    Ngoài trách nhiệm hình sự, người gây thiệt hại còn có thể phải bồi thường thiệt hại cho gia đình nạn nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015.

     

    Trường hợp thứ hai: Tham gia giao thông đúng quy định

    Nếu kết quả điều tra cho thấy người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đúng quy định, đã xử lý trong khả năng cho phép nhưng tình huống xảy ra quá bất ngờ, không thể tránh được, thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

    Tuy nhiên, tùy vào mức độ lỗi của các bên và từng tình huống thực tế, trách nhiệm bồi thường dân sự vẫn có thể được xem xét theo quy định pháp luật.

     

    Trường hợp thứ ba: Lỗi hoàn toàn thuộc về người bị nạn hoặc người gây tai nạn ban đầu

    Nếu cơ quan điều tra kết luận lỗi hoàn toàn thuộc về phía người bị thiệt hại hoặc người gây ra vụ tai nạn ban đầu, còn người đi sau không có lỗi, không vi phạm quy định giao thông và không có khả năng thực tế để tránh hậu quả, thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự và cũng không phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

    Như vậy, trường hợp người khác gây tai nạn trước, mình không xử lý kịp dẫn đến hậu quả chết người thì không phải lúc nào cũng bị đi tù. Yếu tố quan trọng nhất để xác định trách nhiệm là người điều khiển phương tiện có vi phạm quy định an toàn giao thông hay không và hành vi đó có phải nguyên nhân dẫn đến hậu quả xảy ra hay không.

     

    Vô ý làm chết người khi tham gia giao thông có phải bồi thường không?

    Không phải cứ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì sẽ không phải bồi thường. Trên thực tế, trách nhiệm hình sự và trách nhiệm bồi thường thiệt hại là hai vấn đề pháp lý độc lập.

    Căn cứ Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015, người nào có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc thuộc trường hợp bất khả kháng theo quy định của pháp luật.

    Theo đó, để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, thông thường phải có các yếu tố sau:

     

    Thứ nhất, phải có thiệt hại thực tế xảy ra

    Thiệt hại trong tai nạn giao thông có thể bao gồm thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản và tổn thất tinh thần. Trường hợp nạn nhân tử vong thì thiệt hại phát sinh không chỉ là chi phí vật chất mà còn bao gồm tổn thất tinh thần của người thân thích của người bị hại.

     

    Thứ hai, phải có hành vi gây thiệt hại

    Người điều khiển phương tiện phải có hành vi trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn đến hậu quả xảy ra, kể cả trường hợp lỗi vô ý.

     

    Thứ ba, phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả

    Thiệt hại xảy ra phải là hậu quả thực tế phát sinh từ hành vi của người gây tai nạn. Nói cách khác, hành vi đó phải là nguyên nhân dẫn đến hậu quả chết người.

    Như vậy, trường hợp bạn tham gia giao thông vô ý làm chết người thì dù không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, vẫn có thể phải bồi thường thiệt hại nếu có lỗi và có mối quan hệ nhân quả với hậu quả xảy ra.

     

    Các khoản bồi thường khi làm chết người trong tai nạn giao thông gồm những gì?

    Theo Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015, trường hợp tính mạng bị xâm phạm, người gây thiệt hại có thể phải bồi thường các khoản như:

     

     Nguoi-khac-gay-tai-nan-minh-khong-xu-ly-kip-lam-chet-nguoi-co-bi-truy-cuu-trach-nhiem-hinh-su-khong-2

     

    Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp đều phải bồi thường. Người điều khiển phương tiện có thể không phải chịu trách nhiệm bồi thường nếu:

    - Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị hại;

    - Thiệt hại phát sinh do sự kiện bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết theo quy định của pháp luật.

    Như vậy, trong vụ việc người khác gây tai nạn trước, mình không xử lý kịp dẫn đến hậu quả chết người, việc có phải bồi thường hay không còn phụ thuộc vào mức độ lỗi của từng bên và kết luận điều tra của cơ quan có thẩm quyền. Trước hết, các bên có quyền thỏa thuận về mức bồi thường, nếu không thống nhất được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

     

    Kết luận:

    Có thể thấy, trong các vụ tai nạn giao thông dẫn đến chết người, không phải cứ có người tử vong là chắc chắn bị đi tù, cũng không phải cứ “vô ý” là đương nhiên được miễn trách nhiệm hình sự. Việc một người có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không còn phụ thuộc vào kết quả điều tra, mức độ lỗi, việc có vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ hay không và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi với hậu quả xảy ra. Đồng thời, dù không bị xử lý hình sự thì trong nhiều trường hợp, người gây thiệt hại vẫn có thể phải bồi thường dân sự theo quy định của pháp luật. Trong thực tế, nhiều người vì thiếu hiểu biết pháp luật, làm việc không đúng với cơ quan điều tra hoặc không kịp thời thu thập chứng cứ chứng minh lỗi mà dẫn đến bất lợi cho bản thân trong quá trình giải quyết vụ án. Vì vậy, nếu bạn hoặc người thân đang liên quan đến vụ án tai nạn giao thông có người tử vong, bị khởi tố, điều tra hoặc có nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, việc có luật sư tham gia từ sớm là vô cùng cần thiết để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

     

    Văn phòng Luật sư chúng tôi chuyên cung cấp các dịch vụ pháp lý liên quan đến vấn đề hình sự, như: tư vấn, tham gia bào chữa trong các vụ án hình sự liên quan đến tai nạn giao thông, hỗ trợ làm việc với Cơ quan điều tra, thu thập tài liệu chứng cứ, đánh giá mức độ lỗi, xác định tình tiết giảm nhẹ, hỗ trợ thương lượng bồi thường dân sự, tham gia hỏi cung, bảo vệ quyền lợi trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử, nhằm hạn chế tối đa rủi ro pháp lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho khách hàng theo đúng quy định của pháp luật. Trong trường hợp, nếu bạn hoặc người thân đang liên quan đến vụ án tai nạn giao thông có người tử vong, bị khởi tố, điều tra hoặc có nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự vui lòng liên hệ với chúng tôi để được tư vấn, hỗ trợ kịp thời nhé.

     

     

     

    THÔNG TIN LIÊN HỆ

    Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồngsoạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.

     

    VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM

    Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

    Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898

    Website: luatsugioisaigon.com.vn

    Danh mục bài viết

    Bài viết mới