Trong thực tế, không ít trường hợp người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn trực tiếp xác lập, thực hiện các giao dịch dân sự như vay tiền, mua bán, tặng cho hoặc ký kết hợp đồng. Khi phát sinh tranh chấp, vấn đề thường được đặt ra là: Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thực hiện giao dịch có vô hiệu không? Liệu việc một người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự có đồng nghĩa với việc mọi giao dịch do người đó xác lập đều không có giá trị pháp lý? Không phải mọi giao dịch do người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập đều đương nhiên vô hiệu. Việc xác định giao dịch có bị vô hiệu hay không còn phụ thuộc vào tính chất của giao dịch, phạm vi hạn chế và yêu cầu về sự đồng ý của người đại diện theo quy định pháp luật. Vậy khi nào một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, giao dịch do họ thực hiện trong trường hợp nào có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu và căn cứ pháp lý để yêu cầu tuyên bố giao dịch vô hiệu là gì? Nội dung dưới đây sẽ phân tích cụ thể các quy định liên quan để làm rõ vấn đề này.

Năng lực hành vi dân sự là gì?
Căn cứ Điều 19 Bộ luật Dân sự 2015, năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.
Theo đó, có thể hiểu đơn giản, năng lực hành vi dân sự thể hiện khả năng của một cá nhân tự mình tham gia và thực hiện các giao dịch, quyền và nghĩa vụ dân sự bằng chính hành vi của mình. Tùy thuộc vào độ tuổi, khả năng nhận thức, làm chủ hành vi và tình trạng pháp lý của từng người mà pháp luật quy định phạm vi năng lực hành vi dân sự khác nhau.
Do đó, không phải mọi cá nhân đều có khả năng tự mình xác lập và thực hiện mọi giao dịch dân sự. Bộ luật Dân sự 2015 quy định các mức độ năng lực hành vi dân sự khác nhau, bao gồm: người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; người chưa thành niên; người mất năng lực hành vi dân sự; người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Việc xác định một người thuộc trường hợp nào có ý nghĩa quan trọng trong việc xem xét người đó có được tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hay giao dịch phải có sự đồng ý, xác lập hoặc thực hiện của người đại diện, cũng như xác định giao dịch được xác lập có thể bị tuyên vô hiệu hay không.
Khi nào một người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự?
Khi nào một người bị mất năng lực hành vi dân sự?
Khoản 1 Điều 22 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.”
Như vậy, một người không đương nhiên bị mất năng lực hành vi dân sự chỉ vì mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh lý khác. Để một người được xác định là mất năng lực hành vi dân sự theo quy định pháp luật, cần xem xét đồng thời các điều kiện sau:
- Người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác dẫn đến không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Đây là căn cứ về tình trạng thực tế của cá nhân và phải được xác định thông qua kết luận giám định pháp y tâm thần.
- Có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan.
- Tòa án phải ra quyết định tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự. Quyết định này được Tòa án đưa ra trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần và là căn cứ xác lập tình trạng mất năng lực hành vi dân sự của cá nhân theo quy định pháp luật.
Do đó, cần phân biệt giữa việc một người thực tế không có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi với việc người đó được xác định về mặt pháp lý là người mất năng lực hành vi dân sự. Chỉ khi đáp ứng các điều kiện theo Điều 22 và có quyết định của Tòa án thì tình trạng mất năng lực hành vi dân sự mới được xác lập về mặt pháp lý.
Khi nào một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự?
Việc hạn chế năng lực hành vi dân sự của cá nhân được quy định tại Điều 24 Bộ luật Dân sự 2015. Theo đó, một người có thể bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự khi người đó nghiện ma túy hoặc nghiện các chất kích thích khác dẫn đến phá tán tài sản của gia đình.
Tuy nhiên, việc một người có hành vi sử dụng ma túy hoặc chất kích thích không đồng nghĩa với việc người đó đương nhiên bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Để xác lập tình trạng hạn chế năng lực hành vi dân sự, cần có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan và phải được Tòa án ra quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Như vậy, có thể xác định một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự khi có đủ các căn cứ sau:
- Người đó nghiện ma túy hoặc nghiện các chất kích thích khác và việc nghiện này dẫn đến phá tán tài sản của gia đình;
- Có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan đề nghị Tòa án xem xét việc hạn chế năng lực hành vi dân sự;
- Tòa án ra quyết định tuyên bố người đó bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Do đó, không thể chỉ căn cứ vào việc một người nghiện ma túy hoặc chất kích thích để kết luận người đó bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Tình trạng này chỉ được xác lập về mặt pháp lý khi có quyết định của Tòa án theo quy định tại Điều 24 Bộ luật Dân sự 2015.
Về việc xác lập, thực hiện giao dịch dân sự của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, khoản 2 Điều 24 Bộ luật Dân sự 2015 quy định, đối với giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của người bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự, nguyên tắc thực hiện được xác định như sau:
- Phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật: Đối với các giao dịch thuộc phạm vi quy định, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không thể tự mình xác lập, thực hiện mà không có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật.
- Không phải có sự đồng ý của người đại diện: Đối với giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trong trường hợp này, người đại diện theo pháp luật và phạm vi đại diện của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự được Tòa án quyết định theo quy định của pháp luật. Như vậy, điểm cần lưu ý là việc một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự không đồng nghĩa với việc họ mất hoàn toàn khả năng tham gia giao dịch dân sự. Pháp luật chỉ đặt ra sự kiểm soát đối với những giao dịch liên quan đến tài sản thuộc phạm vi phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật. Đây cũng là căn cứ quan trọng để xem xét giao dịch do người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập có bị vô hiệu hay không.
Như vậy, không thể chỉ dựa vào tình trạng bệnh lý, việc nghiện ma túy, chất kích thích hoặc biểu hiện thực tế của một người để mặc nhiên xác định người đó mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Đây là tình trạng pháp lý phải được xác lập theo đúng trình tự luật định và phải có quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Việc xác định đúng tình trạng năng lực hành vi dân sự của một người có ý nghĩa quan trọng khi xem xét giá trị pháp lý của các giao dịch mà người đó đã xác lập, thực hiện. Do đó, không phải cứ cho rằng một người mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì giao dịch do họ thực hiện đương nhiên vô hiệu; cần tiếp tục xem xét căn cứ, điều kiện và phạm vi giao dịch theo quy định của Bộ luật Dân sự.
Người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thực hiện giao dịch dân sự thì có bị vô hiệu không?

Căn cứ khoản 1 Điều 125 Bộ luật Dân sự 2015, khi giao dịch dân sự do người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án có thể tuyên bố giao dịch vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật, giao dịch đó phải do người đại diện xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 125.
Như vậy, không phải mọi giao dịch do người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự tự mình xác lập, thực hiện đều đương nhiên vô hiệu. Để một giao dịch thuộc trường hợp này bị Tòa án tuyên vô hiệu, cần xem xét đồng thời các yếu tố: người xác lập, thực hiện giao dịch là người đã bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự; giao dịch đó thuộc trường hợp pháp luật yêu cầu phải có sự xác lập, thực hiện hoặc đồng ý của người đại diện; đồng thời có yêu cầu của người đại diện để Tòa án xem xét tuyên bố giao dịch vô hiệu. Theo đó, có thể hiểu giao dịch do người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện có thể bị vô hiệu khi:
- Giao dịch liên quan đến tài sản thuộc trường hợp phải có sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật, nhưng người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự vẫn tự mình xác lập, thực hiện mà không có sự đồng ý của người đại diện;
- Người đại diện của người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch vô hiệu theo quy định pháp luật.
Tuy nhiên, pháp luật không áp dụng việc tuyên bố vô hiệu một cách tuyệt đối. Khoản 2 Điều 125 Bộ luật Dân sự 2015 quy định một số trường hợp giao dịch dân sự của các chủ thể này không bị vô hiệu. Đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, đáng lưu ý có các trường hợp sau:
- Giao dịch chỉ làm phát sinh quyền hoặc chỉ miễn trừ nghĩa vụ cho người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự. Chẳng hạn, giao dịch không làm phát sinh nghĩa vụ tài sản bất lợi mà chỉ đem lại quyền hoặc miễn trừ nghĩa vụ cho người này thì không bị tuyên vô hiệu theo trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 125.
- Giao dịch được người xác lập giao dịch thừa nhận hiệu lực sau khi khôi phục năng lực hành vi dân sự. Trường hợp người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự sau đó được khôi phục năng lực hành vi dân sự và chính họ thừa nhận hiệu lực của giao dịch thì giao dịch không bị vô hiệu theo điểm c khoản 2 Điều 125.
Như vậy, việc một người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chỉ là căn cứ để xem xét hiệu lực của giao dịch, chứ không phải căn cứ để mặc nhiên kết luận giao dịch vô hiệu. Muốn xác định giao dịch có bị vô hiệu hay không, cần đối chiếu với quy định về phạm vi giao dịch phải có sự đồng ý của người đại diện, xem xét trường hợp ngoại lệ tại khoản 2 Điều 125 và yêu cầu của người đại diện đối với việc tuyên bố giao dịch vô hiệu.
Do đó, khi giải quyết tranh chấp, cần xác định cụ thể loại giao dịch mà người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự đã xác lập, phạm vi đại diện và yêu cầu về sự đồng ý của người đại diện tại thời điểm giao dịch được thực hiện, thay vì chỉ dựa vào tình trạng hạn chế năng lực hành vi dân sự để cho rằng giao dịch không có giá trị pháp lý.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồng, soạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.
VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM
Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh
Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898
Website: luatsugioisaigon.com.vn







