
Hiện nay, không ít người cho rằng việc mua ma túy về cất giữ trong nhà để bán dần chỉ bị xử lý về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, trên thực tế, tùy thuộc vào mục đích cất giữ, hành vi thực tế và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra, người thực hiện hành vi có thể không chỉ bị xem xét về tội tàng trữ mà còn có nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với khung hình phạt đặc biệt nghiêm khắc. Vậy trường hợp mua ma túy về để bán lại, chưa kịp bán hoặc mới bán một phần thì có bị truy cứu đồng thời cả tội tàng trữ và mua bán trái phép chất ma túy hay không? Cơ quan tiến hành tố tụng sẽ căn cứ vào đâu để định tội danh? Để hiểu rõ quy định pháp luật hiện hành và tránh những nhầm lẫn đáng tiếc, kính mời anh/chị và các bạn cùng theo dõi bài viết dưới đây của chúng tôi nhé.
Mua ma túy về để bán lại: có bị truy cứu cả tội tàng trữ và mua bán không?
Để trả lời câu hỏi này, trước hết cần phân biệt rõ ranh giới pháp lý giữa Tội tàng trữ trái phép chất ma túy và Tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định lần lượt tại Điều 249 và Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Trên thực tế, không ít người cho rằng cứ cất giữ ma túy trong nhà thì mặc nhiên là “tàng trữ”. Tuy nhiên, cách hiểu này chưa hoàn toàn chính xác, bởi việc định tội danh không chỉ dựa vào hành vi cất giữ mà còn phụ thuộc rất lớn vào mục đích của việc cất giữ ma túy.
Theo quy định của pháp luật hình sự, tội mua bán trái phép chất ma túy không chỉ giới hạn ở hành vi trực tiếp bán ma túy để lấy tiền. Đây là tội phạm có phạm vi điều chỉnh rộng hơn, bao gồm mọi hành vi nhằm đưa ma túy đến tay người khác để hưởng lợi bất hợp pháp, cụ thể là bao quát toàn bộ chuỗi cung ứng trái phép: từ mua/xin để bán lại, tàng trữ/vận chuyển nhằm mục đích bán, cho đến việc dùng ma túy để thanh toán hoặc trao đổi tài sản. Nói cách khác, chỉ cần người thực hiện có mục đích chuyển giao ma túy cho người khác để thu lợi thì đã có dấu hiệu của hành vi “mua bán”, dù chưa thực hiện việc giao dịch hoàn tất.
Căn cứ hướng dẫn tại Mục 3.3 Phần II Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP, các hành vi sau đây đều có thể bị xem là mua bán trái phép chất ma túy:

Thứ nhất, hành vi bán trực tiếp hoặc làm trung gian bán ma túy
Bao gồm trường hợp trực tiếp bán ma túy cho người khác hoặc đứng ra môi giới, bán hộ để nhận tiền công, hưởng lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác. Việc ma túy có phải của mình hay không không phải yếu tố quyết định, mà quan trọng là người đó tham gia vào quá trình chuyển giao ma túy trái phép.
Thứ hai, mua hoặc xin ma túy nhằm mục đích bán lại
Đây là trường hợp rất thường gặp trong thực tế. Một người mua ma túy mang về nhà cất giữ, chia nhỏ hoặc để bán dần cho người khác. Dù chưa kịp bán hoặc mới bán một phần, nhưng nếu cơ quan điều tra chứng minh được mục đích mua về là để bán lại kiếm lời thì hành vi đó sẽ bị xem xét xử lý về Tội mua bán trái phép chất ma túy, chứ không đơn thuần là tội tàng trữ.
Thứ ba, sử dụng ma túy để trao đổi hoặc thanh toán
Pháp luật còn xem việc dùng ma túy để thanh toán nợ, đổi lấy tài sản hoặc nhận tài sản khác nhằm tiếp tục bán lại là một dạng hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Điều này cho thấy “mua bán” không chỉ được hiểu theo nghĩa giao tiền – nhận hàng thông thường. Đặc biệt, cần lưu ý rằng hành vi tàng trữ hoặc vận chuyển ma túy sẽ không còn được xem là tội độc lập nếu việc tàng trữ, vận chuyển đó nhằm mục đích bán lại. Khi đó, hành vi sẽ được “chuyển hóa” để xử lý theo Tội mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Nói cách khác, một người mua ma túy về nhà để cất giữ bán dần thường sẽ không bị xử lý đồng thời cả tội tàng trữ và mua bán, bởi việc tàng trữ trong trường hợp này chỉ được xem là hành vi phục vụ cho mục đích mua bán trái phép chất ma túy. Khi chứng minh được mục đích bán lại, cơ quan tiến hành tố tụng thông thường sẽ xử lý về Tội mua bán trái phép chất ma túy, là tội danh có tính chất nghiêm trọng hơn, thay vì tách thành hai tội độc lập.
Tuy nhiên, trong từng vụ án cụ thể, việc định tội còn phụ thuộc vào lời khai, chứng cứ thu thập được, số lượng ma túy, công cụ phân chia, tin nhắn giao dịch, lịch sử chuyển khoản, người mua bán liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, việc xác định chính xác người phạm tội bị xử lý về một tội hay nhiều tội cần được xem xét toàn diện trên cơ sở chứng cứ khách quan của vụ án.
Khi nào thì cấu thành tội mua bán ma túy theo quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự:
Không phải cứ liên quan đến ma túy là mặc nhiên bị xử lý về Tội mua bán trái phép chất ma túy. Để một người bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh đầy đủ 04 yếu tố cấu thành tội phạm, bao gồm: khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan của tội phạm. Chỉ khi hội đủ các yếu tố này thì mới có căn cứ xác định một người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy.
Thứ nhất, khách thể của tội phạm:
Tội mua bán trái phép chất ma túy trước hết xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với chất ma túy, đồng thời ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, trật tự xã hội và sức khỏe cộng đồng.
Đối tượng tác động của tội phạm bắt buộc phải là chất ma túy thuộc danh mục do Nhà nước cấm quản lý, như heroin, methamphetamine, thuốc phiện, cocaine hoặc các chất ma túy khác được Chính phủ quy định.
Tuy nhiên, trên thực tế có những trường hợp người phạm tội mua bán nhầm một chất mà họ tin là ma túy nhưng kết quả giám định xác định đó là chất giả, không chứa thành phần ma túy. Trong trường hợp này, nếu có căn cứ cho thấy người đó tin tưởng đây là ma túy thật và thực hiện hành vi nhằm mua bán trái phép, thì vẫn có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về Tội mua bán trái phép chất ma túy ở giai đoạn phạm tội chưa đạt.
Ngược lại, nếu người thực hiện biết rõ đó không phải ma túy nhưng vẫn dựng chuyện để bán nhằm chiếm đoạt tiền của người khác, thì hành vi có thể bị xem xét xử lý về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, thay vì tội phạm về ma túy.
Thứ hai, mặt khách quan của tội phạm
Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi thực tế nhằm chuyển giao trái phép chất ma túy cho người khác để hưởng lợi.
Các hành vi thường gặp bao gồm:
- Mua ma túy để bán lại kiếm lời;
- Trực tiếp bán ma túy cho người khác, không phụ thuộc nguồn gốc ma túy từ đâu;
- Làm trung gian, bán hộ hoặc nhận tiền công từ việc giao dịch ma túy;
- Dùng ma túy để trao đổi hàng hóa, thanh toán nghĩa vụ hoặc đổi lấy tài sản khác.
Đáng chú ý, trong nhiều vụ án, người bị bắt chưa kịp bán ma túy nhưng vẫn bị truy cứu về Tội mua bán trái phép chất ma túy. Lý do là bởi nếu cơ quan điều tra chứng minh được việc tàng trữ hoặc vận chuyển ma túy nhằm mục đích bán lại, thì hành vi đó không còn được xem là tàng trữ hay vận chuyển độc lập, mà sẽ bị xử lý theo Điều 251 Bộ luật Hình sự. Nói cách khác, mục đích bán lại chính là yếu tố quan trọng để phân định giữa tội “tàng trữ” và tội “mua bán” ma túy.
Thứ ba, chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội mua bán trái phép chất ma túy là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.
Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, theo Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015:
- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với toàn bộ các khung hình phạt của tội danh này;
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu hành vi thuộc các trường hợp rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng theo khoản 2, khoản 3 hoặc khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Điều này đồng nghĩa với việc không phải mọi trường hợp người chưa thành niên liên quan đến ma túy đều bị xử lý như người trưởng thành.
Thứ tư, mặt chủ quan của tội phạm
Tội mua bán trái phép chất ma túy được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ việc mua bán, trao đổi, cất giữ ma túy là hành vi vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Đặc biệt, mục đích vụ lợi là dấu hiệu có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tội danh này. Người thực hiện hành vi thường hướng đến việc kiếm tiền, hưởng lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác thông qua việc chuyển giao ma túy cho người khác.
Do đó, trong trường hợp một người mua ma túy về cất giữ trong nhà để bán dần, nếu cơ quan điều tra chứng minh được mục đích cuối cùng là bán lại để hưởng lợi thì rất nhiều khả năng người đó sẽ bị truy cứu về Tội mua bán trái phép chất ma túy, thay vì chỉ là tội tàng trữ trái phép chất ma túy như nhiều người vẫn thường nhầm lẫn.
Tội mua bán trái phép chất ma túy xử lý như thế nào?
Người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) sẽ bị xử lý với từng khung hình phạt như sau:
* Khung 1: Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm đối với người có hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
* Khung 2: Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm đối với người có hành vi mua bán trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau:
- Có tổ chức;
- Phạm tội 02 lần trở lên;
- Đối với 02 người trở lên;
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
- Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
- Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho người dưới 16 tuổi;
- Qua biên giới;
- Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;
- Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;
- Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;
- Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;
- Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;
- Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;
- Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;
- Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) nêu trên;
- Tái phạm nguy hiểm.
* Khung 3:
Phạt tù từ 15 năm đến 20 năm đối với người có hành vi mua bán trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau:
- Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;
- Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;
- Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;
- Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;
- Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;
- Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;
- Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;
- Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) nêu trên.
* Khung 4:
Phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình đối với người có hành vi mua bán trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau:
- Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;
- Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;
- Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam trở lên;
- Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;
- Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;
- Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;
- Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;
- Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) nêu trên.
* Hình phạt bổ sung:
Người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Như vậy, theo Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) thì người phạm tội mua bán trái phép chất ma túy có thể chịu mức hình phạt cao nhất lên đến tử hình.
Kết luận:
Như vậy, việc mua ma túy về cất giữ để bán lại không đơn thuần chỉ bị xem xét về hành vi “tàng trữ”, mà trong nhiều trường hợp có thể bị truy cứu về Tội mua bán trái phép chất ma túy với khung hình phạt đặc biệt nghiêm khắc. Do đó, việc xác định đúng tội danh, mục đích cất giữ ma túy, đánh giá chứng cứ và áp dụng đúng quy định pháp luật là yếu tố đặc biệt quan trọng, tránh trường hợp bị định tội không chính xác hoặc bỏ sót các tình tiết có lợi cho người bị buộc tội.

Đối với các vụ án hình sự, đặc biệt là án về ma túy, nơi mức hình phạt rất nặng và thủ tục tố tụng phức tạp. Việc có luật sư tham gia từ giai đoạn đầu có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Văn phòng chúng tôi nhận tư vấn pháp lý, tham gia bào chữa trong các vụ án hình sự; nghiên cứu hồ sơ vụ án, sao chụp tài liệu chứng cứ; tham gia hỏi cung, lấy lời khai; thu thập tài liệu, chứng cứ về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; soạn thảo ý kiến pháp lý, bản luận cứ bào chữa; làm việc với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và trực tiếp tham gia tranh tụng tại phiên tòa nhằm bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng, hạn chế oan sai và bảo đảm việc giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồng, soạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.
VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM
Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh
Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898
Website: luatsugioisaigon.com.vn







