
Nhiều cặp vợ chồng khi làm thủ tục ly hôn thường chỉ muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân càng nhanh càng tốt, còn nhà đất, tiền bạc, xe cộ hoặc tài sản chung thì để “tính sau”. Tuy nhiên, không ít người sau khi đã có bản án ly hôn mới phát sinh tranh chấp và lo lắng rằng đã ly hôn rồi thì còn được yêu cầu chia tài sản hay không, có bị mất quyền khởi kiện không, thời hiệu chia tài sản sau ly hôn là bao lâu. Thực tế, pháp luật hiện hành không bắt buộc vợ chồng phải chia tài sản ngay trong vụ án ly hôn. Trong nhiều trường hợp, Tòa án có thể giải quyết ly hôn trước, chia tài sản sau theo yêu cầu của các bên. Tuy nhiên, việc để tài sản “treo” quá lâu có thể dẫn đến tranh chấp phức tạp, khó chứng minh nguồn gốc tài sản và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của mỗi bên. Bài viết dưới đây sẽ phân tích rõ quy định mới nhất năm 2026 về việc ly hôn xong mới chia tài sản và thời hiệu khởi kiện chia tài sản sau ly hôn.

Tài sản chung của vợ chồng được xác định như thế nào theo quy định pháp luật hiện hành?
Khi ly hôn và phát sinh tranh chấp về nhà đất, tiền bạc, xe cộ hoặc các tài sản khác, vấn đề quan trọng nhất là xác định đó là tài sản chung hay tài sản riêng. Đây là cơ sở để Tòa án quyết định có chia tài sản hay không và chia theo tỷ lệ nào. Theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được xác định theo các nguyên tắc sau:
- Tài sản chung của hai vợ chồng bao gồm tài sản do vợ và chồng tạo ra, thu nhập từ lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, cũng như lợi ích, lợi nhuận phát sinh từ tài sản riêng và các nguồn thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân trừ những trường hợp được quy định tại khoản 1 của Điều 40 trong Luật Hôn nhân và gia đình, tài sản kế thừa hoặc được tặng chung và tài sản mà vợ chồng đã thỏa thuận là tài sản chung.
- Quyền sử dụng đất sau hôn nhân cũng được xem xét là tài sản chung, trừ khi có các trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế, tặng riêng, hoặc thông qua giao dịch sử dụng tài sản riêng.
- Nếu không có bằng chứng để chứng minh rằng tài sản của vợ chồng đang tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên, thì tài sản đó sẽ được coi là tài sản chung.
Theo Điều 9 Nghị định 126/2014/NĐ-CP, thu nhập hợp pháp khác của vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân bao gồm:
- Khoản tiền thưởng, tiền trúng thưởng xổ số và tiền trợ cấp, trừ khi có quy định khác tại khoản 3 của Điều 11 trong nghị định này;
- Tài sản mà vợ và chồng được xác lập quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật dân sự đối với những vật vô chủ, vật bị chôn giấu, vật bị chìm đắm, vật bị đánh rơi, bị bỏ quên, gia súc, gia cầm bị thất lạc và vật nuôi dưới nước;
- Thu nhập hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Điều 10 của Nghị định 126/2014/NĐ-CP giải thích về hoa lợi và lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ và chồng như sau:
- Hoa lợi phát sinh từ tài sản riêng của vợ và chồng là những sản vật tự nhiên mà họ thu được từ tài sản riêng của mình;
- Lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ và chồng là khoản lợi nhuận mà họ thu được thông qua việc khai thác tài sản riêng của mình.
Tài sản chung của vợ chồng được chia theo nguyên tắc nào?
Sau khi xác định được đâu là tài sản chung, vấn đề tiếp theo là Tòa án sẽ chia khối tài sản đó theo nguyên tắc nào. Căn cứ Điều 33, Điều 38, Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và Điều 5 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP, việc chia tài sản của vợ chồng được thực hiện theo các nguyên tắc sau:
Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản, văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng.
Tuỳ vào chế độ tài sản của vợ chồng là chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định hay theo thỏa thuận, việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì tuân theo các nguyên tắc dưới đây để giải quyết việc chia tài sản chung.

- Nguyên tắc chia đôi tài sản chung: Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau: Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung; Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng; Trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết mà việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống và gia đình.
- Nguyên tắc chia tài sản chung bằng hiện vật: Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.
- Nguyên tắc tài sản riêng của ai thì thuộc sở hữu của người đó: Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này. Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
Ly hôn trước, chia tài sản sau có được không?
Câu trả lời là có.
Trên thực tế, không phải trường hợp ly hôn nào các bên cũng sẵn sàng giải quyết ngay vấn đề tài sản. Nhiều cặp vợ chồng muốn chấm dứt quan hệ hôn nhân trước, trong khi tài sản chung vẫn đang được các bên thương lượng, chưa xác định được giá trị hoặc còn liên quan đến người thứ ba. Trong những trường hợp này, pháp luật cho phép vợ chồng ly hôn trước và giải quyết việc chia tài sản vào thời điểm khác.
Căn cứ khoản 1 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, việc giải quyết tài sản của vợ chồng trước hết do các bên tự thỏa thuận. Chỉ khi không đạt được thỏa thuận thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của cả hai, Tòa án mới xem xét giải quyết.
Bên cạnh đó, Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định Tòa án chỉ giải quyết vụ việc dân sự trong phạm vi yêu cầu của đương sự. Điều này có nghĩa rằng, khi nộp đơn ly hôn, nếu vợ chồng chỉ yêu cầu giải quyết quan hệ hôn nhân, con chung, cấp dưỡng mà không yêu cầu chia tài sản, thì Tòa án cũng không tự mình xem xét và phân chia tài sản chung của vợ chồng. Nói cách khác, việc chia tài sản khi ly hôn là quyền yêu cầu của đương sự chứ không phải nội dung bắt buộc phải được giải quyết trong mọi vụ án ly hôn.
Không chỉ vậy, khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 còn xác định cả tranh chấp về chia tài sản khi ly hôn và tranh chấp về chia tài sản sau khi ly hôn đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Quy định này cho thấy pháp luật thừa nhận việc tài sản có thể được giải quyết cùng thời điểm ly hôn hoặc được tách thành một vụ án độc lập sau khi quan hệ hôn nhân đã chấm dứt.
Do đó, trong đơn ly hôn, các bên hoàn toàn có thể ghi nhận nội dung như: "Tài sản chung tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết" hoặc "Chưa yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung". Sau khi bản án hoặc quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu không thể tự thỏa thuận được, một trong hai bên vẫn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, việc được quyền ly hôn trước, chia tài sản sau không đồng nghĩa với việc quyền khởi kiện được duy trì vô thời hạn. Vì vậy, người có quyền lợi liên quan cần đặc biệt lưu ý đến thời hiệu yêu cầu chia tài sản sau ly hôn để tránh ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Thời hiệu khởi kiện chia tài sản sau ly hôn là bao lâu?
Hiện nay, pháp luật không quy định thời hiệu khởi kiện đối với yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn. Điều này có nghĩa là sau khi bản án hoặc quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật, nếu tài sản chung chưa được phân chia thì vợ hoặc chồng vẫn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản vào bất kỳ thời điểm nào, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định đặc biệt đối với một số loại tài sản cụ thể.
Sở dĩ không áp dụng thời hiệu là vì việc ly hôn và việc chia tài sản là hai quan hệ pháp lý có thể được giải quyết độc lập. Khi làm thủ tục ly hôn, các bên có thể chỉ yêu cầu chấm dứt quan hệ hôn nhân mà chưa yêu cầu chia tài sản hoặc chỉ yêu cầu giải quyết một phần tài sản chung. Phần tài sản còn lại có thể được khởi kiện bằng một vụ án khác sau khi ly hôn.
Thực tiễn cũng cho thấy có nhiều loại tài sản không thể hoặc chưa nên chia ngay tại thời điểm ly hôn. Chẳng hạn, vợ chồng có thể yêu cầu chia căn nhà đã có giấy chứng nhận quyền sở hữu nhưng chưa yêu cầu chia thửa đất ở địa phương khác vì đang vướng thủ tục cấp giấy chứng nhận; hoặc cổ phần trong doanh nghiệp phải chờ điều kiện chuyển nhượng theo điều lệ công ty mới có thể phân chia được. Do đó, đương sự hoàn toàn có quyền:
- Chỉ yêu cầu ly hôn mà chưa yêu cầu giải quyết tài sản;
- Chỉ yêu cầu giải quyết một phần tài sản chung;
- Để phần tài sản còn lại được giải quyết bằng một vụ án khác sau khi ly hôn.
Một điểm rất quan trọng cần lưu ý là sau khi ly hôn, đối với những tài sản chung chưa được phân chia thì hai bên vẫn là đồng chủ sở hữu của tài sản đó, mặc dù quan hệ vợ chồng đã chấm dứt. Ví dụ, căn nhà mua trong thời kỳ hôn nhân nhưng chưa chia sau ly hôn thì cả hai vẫn cùng có quyền và nghĩa vụ đối với căn nhà đó cho đến khi có thỏa thuận hoặc bản án phân chia tài sản.
Khi một bên tiếp tục khởi kiện yêu cầu chia tài sản sau ly hôn, vụ án này vẫn được xác định là vụ án hôn nhân và gia đình, không phải tranh chấp dân sự thông thường về sở hữu chung. Lý do là Tòa án vẫn phải áp dụng các nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng theo các Điều 59, 60, 61, 62, 63 và 64 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, như nguyên tắc chia đôi có tính đến công sức đóng góp, hoàn cảnh của các bên, lỗi trong quan hệ hôn nhân và việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên.
Tuy không bị giới hạn bởi thời hiệu khởi kiện, nhưng việc yêu cầu chia tài sản càng sớm càng có lợi. Theo thời gian, chứng cứ về nguồn gốc tài sản, quá trình đóng góp, giấy tờ thanh toán, hồ sơ nhà đất hoặc tài liệu liên quan đến doanh nghiệp có thể bị thất lạc, thay đổi hoặc khó thu thập hơn. Ngoài ra, tài sản cũng có thể phát sinh giao dịch với người thứ ba, làm cho quá trình giải quyết tranh chấp trở nên phức tạp hơn rất nhiều.
Từ các quy định trên có thể khẳng định rằng, ly hôn trước rồi mới yêu cầu chia tài sản là hoàn toàn được pháp luật cho phép và hiện nay không bị giới hạn bởi thời hiệu khởi kiện. Tuy nhiên, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình, người có quyền yêu cầu nên chủ động thực hiện việc chia tài sản trong thời gian sớm nhất, đồng thời lưu giữ đầy đủ chứng cứ chứng minh nguồn gốc và quá trình hình thành khối tài sản chung.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồng, soạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.
VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM
Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh
Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898
Website: luatsugioisaigon.com.vn







