
Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Và một trong những vấn đề quan trọng khi giải quyết ly hôn đơn phương là xác định nơi cư trú của vợ hoặc chồng. Trong trường hợp, không biết nơi cư trú của vợ hoặc chồng thì làm cách nào để ly hôn? Theo dõi video sau đây của Luật sư giỏi Sài Gòn để tìm hiểu về vấn đề này nhé!
Vì sao nơi cư trú của vợ hoặc chồng là vấn đề quan trọng cần xác định khi ly hôn đơn phương?
Việc giải quyết ly hôn đơn phương luôn phức tạp hơn rất nhiều so với giải quyết ly hôn thuận tình vì ly hôn đơn phương có thể chỉ xuất phát từ ý chí của một bên vợ hoặc chồng, không có sự đồng thuận từ hai vợ chồng, ngoài ra còn có thể phát sinh thêm các tranh chấp khác về tài sản, quyền nuôi con và nợ chung (nếu có).
Trên thực tế, một trong những khó khăn khi giải quyết ly hôn đơn phương là xác định nơi cư trú của vợ hoặc chồng. Khó khăn này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như:
- Vợ hoặc chồng không muốn ly hôn nên cố tình không cung cấp địa chỉ, hộ khẩu, giấy tạm trú;
- Vợ chồng ly thân nhiều năm, vợ hoặc chồng bỏ đi biệt tích không thể biết được nơi cư trú hiện tại ở đâu;
- Vợ hoặc chồng thường xuyên trốn tránh, liên tục thay đổi nơi cư trú.
Căn cứ quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ thì Tòa án nơi bị đơn cư trú có thẩm quyền giải quyết ly hôn.
Theo Khoản 1 Điều 11 Luật Cư trú 2020 có quy định:
“Điều 11. Nơi cư trú của công dân
1. Nơi cư trú của công dân bao gồm nơi thường trú, nơi tạm trú.”
Như vậy, nơi bị đơn cư trú sẽ bao gồm:
- Nơi thường trú: là nơi công dân sinh sống ổn định, lâu dài và đã được đăng ký thường trú (Khoản 8 Điều 2 Luật cư trú năm 2020)
- Nơi tạm trú: là nơi công dân sinh sống trong một khoảng thời gian nhất định ngoài nơi thường trú và đã được đăng ký tạm trú (Khoản 9 Điều 2 Luật cư trú năm 2020)

Như vậy việc xác định nơi cư trú của vợ hoặc chồng là một trong những vấn đề quan trọng khi giải quyết ly hôn đơn phương, vì nếu không xác định được nơi cư trú của vợ hoặc chồng thì không có cơ sở để xác định thẩm quyền của Tòa án giải quyết ly hôn, đồng nghĩa Tòa án sẽ không có căn cứ để thụ lý yêu cầu giải quyết ly hôn đơn phương và sẽ trả hồ sơ.
Làm sao để ly hôn khi không biết người vợ hoặc chồng sống ở đâu?
Như trình bày, Tòa án có thẩm quyền giải quyết ly hôn đơn phương là Tòa án nơi bị đơn cư trú. Nhưng quy định này chỉ áp dụng được khi nguyên đơn biết địa chỉ cư trú của bị đơn. Còn trường hợp người vợ hoặc chồng không biết địa chỉ hiện tại của người còn lại do họ bỏ đi, không có tin tức thì xử lý như thế nào? Trường hợp này xử lý như sau:
Đầu tiên, trong trường hợp không xác định được địa chỉ hiện tại của vợ hoặc chồng, người yêu cầu ly hôn có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân khu vực nơi cư trú trước đây của người vợ hoặc chồng hoặc thông tin địa chỉ của người vợ hoặc chồng trên Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn.
Trường hợp này, nếu người yêu cầu ly hôn đã ghi đúng địa chỉ của người vợ hoặc chồng đó thì Tòa án vẫn tiến hành thụ lý vụ án. Lúc này sẽ xảy ra hai trường hợp như sau:
Trường hợp 1: Nếu sau khi thụ lý vụ án, Tòa án xác minh được bị đơn là người vợ hoặc chồng hiện đang cư trú tại địa chỉ mà người khởi kiện cung cấp, tống đạt được thông báo, văn bản nhưng người vợ hoặc chồng đó cố tình trốn tránh không ra để giải quyết thì Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định.
Trường hợp 2: Nếu sau khi thụ lý vụ án, Tòa án xác minh được bị đơn không cư trú/làm việc hoặc đã từng cư trú, làm việc nhưng hiện tại không cư trú/làm việc tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp thì Tòa án giải quyết theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 6 của Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP như sau: Tòa án yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ mới của bị đơn nhưng nguyên đơn không cung cấp được thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xác minh địa chỉ mới của bị đơn theo quy định của pháp luật. Trường hợp Tòa án không xác định được địa chỉ mới của bị đơn thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Như vậy, khi xảy ra trường hợp thứ hai hoặc người yêu cầu ly hôn xác định biết chính xác người vợ hoặc chồng đó không còn cư trú tại địa chỉ mà mình biết, đã bỏ đi, không có thông tin thì trường hợp này bắt buộc phải thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích hoặc thủ tục yêu cầu tuyên bố một người là đã chết tùy vào thời gian không có tin tức của người vợ hoặc chồng đó.
Thực hiện thủ tục yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết
Trường hợp tuyên bố mất tích:
Căn cứ Khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: "Khi một người biệt tích 02 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích."
Đồng thời, tại Khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: "Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn."
Như vậy, nếu người vợ hoặc chồng đã biệt tích từ 02 năm trở lên và người có yêu cầu giải quyết ly hôn đơn phương đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm nhưng vẫn không thể xác định được tin tức của vợ hoặc chồng thì người có yêu cầu giải quyết ly hôn đơn phương có thể thực hiện thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố người vợ hoặc chồng đó mất tích.
Sau khi có Quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án, người có yêu cầu giải quyết ly hôn đơn phương có thể tiếp tục thực hiện thủ tục ly hôn theo quy định.
Trường hợp tuyên bố là đã chết
Căn cứ Khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định Người có quyền, lợi ích liên quan có thể yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết trong trường hợp sau đây:
- Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
- Biệt tích trong chiến tranh sau 05 năm, kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống;
- Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 02 năm, kể từ ngày tai nạn hoặc thảm hoạ, thiên tai đó chấm dứt vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác;
- Biệt tích 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là còn sống; thời hạn này được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng.
Căn cứ vào thời gian biệt tích của người vợ hoặc chồng, nếu thuộc các trường hợp trên thì người chồng hoặc vợ còn lại có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố người vợ hoặc chồng là đã chết.
Sau khi Tòa án ra quyết định tuyên bố người vợ hoặc chồng là đã chết thì quan hệ hôn nhân với người chồng hoặc vợ còn lại sẽ chấm dứt. Thời điểm hôn nhân chấm dứt được xác định theo ngày chết được ghi trong bản án, quyết định của Tòa án. Do đó, người vợ hoặc chồng còn lại không cần thực hiện thủ tục ly hôn.
Trình tự thực hiện thủ tục tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết như sau:
Bước 1: Nộp đơn yêu cầu
Căn cứ vào thời gian biệt tích của người vợ hoặc chồng, người yêu cầu lựa chọn thủ tục phù hợp là tuyên bố một người mất tích hoặc tuyên bố một người là đã chết.
Người yêu cầu cần nộp đơn yêu cầu tuyên bố người vợ hoặc chồng mất tích hoặc là đã chết đến Tòa án nhân dân khu vực nơi người vợ hoặc người chồng đó cư trú cuối cùng.
Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết thỏa mãn các quy định tại khoản 1 Điều 68 hoặc khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Bước 2: Chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết
Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết.
Thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết là 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên.
Trong thời gian thông báo, nếu người bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết trở về và yêu cầu Tòa án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết.
Bước 3: Ra quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết
Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn thông báo nêu trên thì Tòa án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu.
Trường hợp có căn cứ tuyên bố mất tích theo quy định, Tòa án ra quyết định tuyên bố một người mất tích. Sau khi Tòa án ra quyết định tuyên bố người vợ hoặc chồng mất tích thì người chồng hoặc người vợ còn lại có thể thực hiện thủ tục ly hôn đơn phương với người bị tuyên bố mất tích.
Trường hợp có căn cứ tuyên bố là đã chết theo quy định, Tòa án ra quyết định tuyên bố một người là đã chết. Sau khi ra quyết định này, quan hệ hôn nhân giữa người vợ hoặc chồng với người bị tuyên bố là đã chết chấm dứt.
Thủ tục đơn phương ly hôn sau khi đã tuyên bố một người mất tích như sau:
Sau khi có quyết định của Tòa án về tuyên bố một người mất tích, người vợ hoặc chồng tiến hành thục hiện thủ tục ly hôn đơn phương như sau:
Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ
Hồ sơ bao gồm:
- Đơn khởi kiện ly hôn;
- Bản chính Giấy chứng nhận kết hôn;
- Bản sao Chứng minh nhân dân/Căn cước công dân/Sổ hộ khẩu của người khởi kiện;
- Bản sao giấy khai sinh của con chung;
- Quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án.
Bước 2: Nộp hồ sơ
Sau khi đã có đầy đủ hồ sơ xin ly hôn, người vợ hoặc chồng tiến hành nộp hồ sơ xin ly hôn đơn phương đến Tòa án nhân dân khu vực nơi tuyên bố người chồng hoặc người vợ mất tích để xin ly hôn. Hồ sơ có thể nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc nộp qua đường bưu điện.
Bước 3: Thụ lý hồ sơ và giải quyết ly hôn
- Sau khi nhận đủ giấy tờ hợp lệ, Tòa án phân công Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện ly hôn, nếu xét thấy hồ sơ hợp lệ Thẩm phán tiến hành thụ lý đơn khởi kiện và thông báo cho đương sự nộp tiền tạm ứng án phí.
- Sau khi nộp tiền tạm ứng án phí và nộp lại biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án thì Tòa án sẽ ra Thông báo thụ lý vụ án.
Thời gian giải quyết ly hôn theo yêu cầu của một bên là khoảng từ 06 đến 08 tháng.
Trên đây là những giải đáp về chủ đề “LÀM THẾ NÀO ĐỂ LY HÔN KHI KHÔNG BIẾT VỢ HOẶC CHỒNG SỐNG Ở ĐÂU?”. Quý anh chị và các bạn đang gặp phải, cần hỗ trợ các vấn đề liên quan đến thủ tục ly hôn, tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết và các vấn đề pháp lý liên quan, hãy liên hệ ngay với Luật sư giỏi Sài Gòn để được tư vấn, hỗ trợ một cách chính xác - hiệu quả - tận tấm nhé!
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồng, soạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.
VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM
Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh
Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898
Website: luatsugioisaigon.com.vn







