
"Cướp bao nhiêu tiền thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự?" là một trong những câu hỏi được rất nhiều người quan tâm. Không ít người cho rằng chỉ khi chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn mới bị xử lý hình sự, còn nếu tài sản chỉ vài trăm nghìn đồng hoặc vài nghìn đồng thì cùng lắm chỉ bị xử phạt hành chính. Tuy nhiên, đây là một quan điểm chưa chính xác. Vậy pháp luật hiện hành quy định như thế nào? Có phải cứ thực hiện hành vi cướp tài sản là sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, hay phải đạt một giá trị tài sản nhất định? Hãy cùng tìm hiểu trong bài viết dưới đây.

Cướp tài sản là gì? Pháp luật quy định như thế nào?
Tội cướp tài sản hiện nay được quy định tại Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đây là một trong những tội xâm phạm quyền sở hữu có tính chất đặc biệt nghiêm trọng, bởi hành vi phạm tội không chỉ nhằm chiếm đoạt tài sản mà còn trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe hoặc sự an toàn của người bị hại.
Theo quy định này, có thể hiểu một cách đơn giản rằng cướp tài sản là hành vi người phạm tội sử dụng vũ lực, đe dọa sẽ sử dụng vũ lực ngay tức khắc hoặc thực hiện các hành vi khác khiến người bị hại rơi vào tình trạng không thể chống cự nhằm chiếm đoạt tài sản. Chính việc sử dụng hoặc đe dọa sử dụng bạo lực là dấu hiệu đặc trưng để phân biệt tội cướp tài sản với nhiều tội xâm phạm sở hữu khác như trộm cắp, công nhiên chiếm đoạt hay lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Cướp bao nhiêu tiền thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự? Có đúng là cướp 1.000 đồng vẫn bị truy cứu không?
Nhiều người cho rằng chỉ khi cướp tài sản có giá trị lớn mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, đây là một quan điểm không đúng. Căn cứ theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự có quy định cụ thể như sau: “1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.”. Theo đó, khác với một số tội như tội trộm cắp tài sản, pháp luật không quy định giá trị tài sản tối thiểu đối với tội cướp tài sản. Điều đó có nghĩa là, chỉ cần người thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự nhằm chiếm đoạt tài sản thì đã có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Nói cách khác, không phải cướp bao nhiêu tiền mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mà điều quan trọng là người phạm tội đã thực hiện hành vi cướp tài sản theo quy định của pháp luật hay chưa. Vì vậy, trong thực tế, dù tài sản bị chiếm đoạt chỉ có giá trị 1.000 đồng, 10.000 đồng hay 100.000 đồng thì người thực hiện hành vi vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu có đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm. Thậm chí, trong trường hợp người phạm tội đã thực hiện hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực nhằm chiếm đoạt tài sản nhưng vì nguyên nhân khách quan nên chưa chiếm đoạt được tài sản, họ vẫn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản ở giai đoạn phạm tội chưa đạt theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Người dân cũng cần lưu ý rằng, mốc 50 triệu đồng không phải là điều kiện để bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản. Đây chỉ là một trong những căn cứ để xác định khung hình phạt nặng hơn khi giải quyết vụ án. Do đó, không nên lầm tưởng rằng cướp tài sản có giá trị nhỏ sẽ không bị xử lý hình sự.
Có thể thấy, pháp luật hình sự xử lý nghiêm tội cướp tài sản không phải vì giá trị tài sản lớn hay nhỏ, mà bởi hành vi này trực tiếp đe dọa đến tính mạng, sức khỏe và sự an toàn của người khác. Chính vì vậy, ngay cả khi tài sản bị chiếm đoạt có giá trị rất nhỏ, người thực hiện hành vi vẫn có thể phải đối mặt với trách nhiệm hình sự và hình phạt tù theo quy định của pháp luật.
Người thực hiện hành vi cướp tài sản thì bị phạt tù bao nhiêu năm?
Theo Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, người thực hiện hành vi cướp tài sản có thể phải đối mặt với 04 khung hình phạt chính, tùy thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi gây ra.

- Khung 1
Người thực hiện hành vi cướp tài sản thông thường sẽ bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
Đây là khung hình phạt cơ bản áp dụng đối với trường hợp người phạm tội đã có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm người bị hại không thể chống cự nhằm chiếm đoạt tài sản mà không thuộc các trường hợp tăng nặng theo quy định của pháp luật. Cần lưu ý rằng, chỉ cần hành vi cướp tài sản đủ yếu tố cấu thành tội phạm thì người thực hiện đã có thể phải đối mặt với mức án thấp nhất là 03 năm tù, dù tài sản bị chiếm đoạt có giá trị không lớn.
- Khung 2
Người phạm tội sẽ bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm nếu thuộc một trong các trường hợp như:
- Có tổ chức;
- Có tính chất chuyên nghiệp;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%;
- Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
- Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- Tái phạm nguy hiểm.
Có thể thấy, mức hình phạt ở khung này tăng lên đáng kể khi hành vi phạm tội có tính chất nguy hiểm hơn hoặc gây ảnh hưởng lớn hơn đến xã hội. Giá trị tài sản chỉ là một trong nhiều căn cứ để áp dụng khung hình phạt này, chứ không phải là yếu tố duy nhất.
- Khung 3
Người phạm tội sẽ bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;
- Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh để thực hiện hành vi phạm tội.
Đây là khung hình phạt áp dụng đối với các trường hợp có tính chất đặc biệt nghiêm trọng hơn, khi hậu quả hoặc mức độ nguy hiểm của hành vi đã vượt xa trường hợp thông thường.
- Khung 4
Người phạm tội có thể bị phạt tù từ 18 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
- Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng trở lên;
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây thương tích cho từ 02 người trở lên mà mỗi người có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% trở lên;
- Làm chết người;
- Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh hoặc tình trạng khẩn cấp để phạm tội.
Đây là khung hình phạt nghiêm khắc nhất đối với tội cướp tài sản. Trong những trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, người phạm tội có thể phải chịu mức án tù chung thân, thể hiện sự xử lý nghiêm khắc của pháp luật đối với hành vi vừa xâm phạm quyền sở hữu tài sản, vừa đe dọa trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe và sự an toàn của người khác.
- Hình phạt bổ sung
Bên cạnh hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản theo quyết định của Tòa án.
Ngoài ra, người chuẩn bị phạm tội cướp tài sản cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Như vậy, tội cướp tài sản là một trong những tội danh có chế tài rất nghiêm khắc. Tùy theo tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và hậu quả xảy ra, người phạm tội có thể phải đối mặt với mức án từ 03 năm tù đến tù chung thân, đồng thời còn có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định của pháp luật.
Cướp giật tài sản và cướp tài sản có giống nhau không?
Đây là hai tội danh mà nhiều người thường nhầm lẫn do đều là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Tuy nhiên, về bản chất pháp lý, tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản có những dấu hiệu hoàn toàn khác nhau.
Tội cướp tài sản là hành vi người phạm tội dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác khiến người bị hại lâm vào tình trạng không thể chống cự nhằm chiếm đoạt tài sản. Điểm đặc trưng của tội danh này là người phạm tội sử dụng hoặc đe dọa sử dụng bạo lực để khống chế nạn nhân trước hoặc trong quá trình chiếm đoạt tài sản.
Trong khi đó, tội cướp giật tài sản là hành vi lợi dụng sự bất ngờ để nhanh chóng chiếm đoạt tài sản rồi tẩu thoát, khiến người bị hại không kịp phản ứng hoặc ngăn cản. Đối với tội danh này, người phạm tội thường không nhằm mục đích dùng vũ lực để khống chế nạn nhân ngay từ đầu mà tận dụng yếu tố nhanh, bất ngờ để thực hiện hành vi chiếm đoạt.
Có thể thấy, điểm khác biệt cơ bản giữa hai tội danh nằm ở phương thức thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Việc phân biệt chính xác hai tội danh này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định đúng tội danh và khung hình phạt theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Để hiểu rõ hơn về cách phân biệt giữa tội cướp tài sản và tội cướp giật tài sản, cũng như các dấu hiệu pháp lý dễ gây nhầm lẫn trong thực tế, bạn đọc có thể tham khảo bài viết chi tiết của chúng tôi tại đây.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồng, soạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.
VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM
Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh
Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898
Website: luatsugioisaigon.com.vn







