
Nhiều người vẫn cho rằng con phải mang họ của bố thì mới được hưởng di sản thừa kế của bố. Vì vậy, trường hợp con không cùng họ với bố, chẳng hạn con mang họ mẹ, thường phát sinh thắc mắc: con khác họ với bố có được hưởng thừa kế không, có được chia di sản của bố không? Việc không mang họ của bố có làm mất quyền thừa kế của người con hay không? Đây là vấn đề tưởng chừng đơn giản nhưng lại dễ dẫn đến cách hiểu chưa chính xác về quyền hưởng di sản thừa kế của con. Vậy con không cùng họ với bố có được hưởng di sản thừa kế của bố và được chia di sản như thế nào theo quy định pháp luật? Hãy cùng theo dõi bài viết bên dưới của chúng tôi để làm rõ vấn đề trên nhé.

Pháp luật quy định như thế nào về việc đặt họ tên cho con?
Căn cứ Điều 26 Bộ luật Dân sự 2015 quy định quyền có họ, tên như sau:
"1. Cá nhân có quyền có họ, tên (bao gồm cả chữ đệm, nếu có). Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó.
2. Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán. Trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ.
…....
3. Việc đặt tên bị hạn chế trong trường hợp xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.
Tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ.
…..."
Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 6 Thông tư 04/2020/TT-BTP, việc xác định họ, dân tộc, đặt tên cho trẻ em phải phù hợp với pháp luật và yêu cầu giữ gìn bản sắc dân tộc, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của Việt Nam; không đặt tên quá dài, khó sử dụng. Trường hợp cha, mẹ không thỏa thuận được về họ của con khi đăng ký khai sinh thì họ của con được xác định theo tập quán nhưng phải bảo đảm theo họ của cha hoặc mẹ.
Từ các quy định trên có thể thấy, pháp luật không bắt buộc con phải mang họ của cha. Họ của con có thể được xác định theo họ của cha hoặc họ của mẹ, tùy thuộc vào sự thỏa thuận của cha, mẹ; trường hợp không có thỏa thuận thì xác định theo tập quán theo quy định pháp luật.
Do đó, con mang họ mẹ, không cùng họ với cha vẫn là trường hợp được pháp luật cho phép. Việc một người con mang họ mẹ thay vì họ cha không làm cho việc đặt họ của người con trở nên trái quy định pháp luật, nếu việc xác định họ được thực hiện đúng theo quy định nêu trên.
Các trường hợp con không được hưởng di sản thừa kế của bố mẹ:
Căn cứ Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế nếu rơi vào các trường hợp sau đây sẽ không được hưởng thừa kế nhà, đất và các di sản khác từ bố mẹ, người để lại di sản, bao gồm:
Trường hợp 01: Con không còn sống vào thời điểm thừa kế
Căn cứ Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết.
Như vậy, nếu tại thời điểm mở thừa kế của bố mẹ, con đã chết hoặc chưa thành thai thì sẽ không được hưởng thừa kế.
Trường hợp 02: Con đã thành niên, có khả năng lao động và không có tên trong di chúc thừa kế
Theo quy định tại Bộ luật Dân sự 2015, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Nếu cha, mẹ không để lại di chúc, con cái sẽ được hưởng di sản của bố mẹ theo quy định tại Điều 650 và 651 Bộ luật Dân sự 2015.
Tuy nhiên, trong trường hợp bố mẹ, người để lại di sản có di chúc nhưng trong di chúc không đề cập đến việc để lại tài sản cho con (con đã thành niên và có khả năng lao động), thì người con này sẽ không được hưởng thừa kế.
Trường hợp 03: Con bị truất quyền thừa kế
Con đã thành niên có khả năng lao động và toàn bộ di sản được thừa kế theo di chúc hợp pháp nhưng trong di chúc ghi rõ không cho người con đó hưởng thừa kế.
Người là con đẻ, con nuôi của người để lại di sản nhưng không được quyền hưởng di sản khi đủ điều kiện sau:
- Điều kiện 1: Con đã thành niên có khả năng lao động.
Căn cứ theo khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:
“1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:
a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;
b) Con thành niên mà không có khả năng lao động”.
Theo quy định trên, nếu con đã thành niên (từ đủ 18 tuổi trở lên) có khả năng lao động nhưng người lập di chúc không cho người con đó hưởng thì người con đó không có quyền hưởng di sản thừa kế theo di chúc.
- Điều kiện 2: Toàn bộ di sản là quyền sử dụng đất, nhà ở được thừa kế theo di chúc hợp pháp.
Như vậy, nếu con đã thành niên có khả năng lao động thì không được quyền hưởng di sản là nhà, đất của người chết để lại nếu toàn bộ nhà, đất được thừa kế theo di chúc hợp pháp mà người lập di chúc không cho người con đó hưởng.
Lưu ý: Mặc dù là con đã thành niên có khả năng lao động và toàn bộ nhà, đất được thừa kế theo di chúc mà người lập di chúc không cho hưởng di sản nhưng trong một số trường hợp sau vẫn có quyền hưởng di sản thừa kế.

Trường hợp 04: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó.
Trường hợp 05: Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản.
Trường hợp 06: Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng.
Trường hợp 07: Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Lưu ý: Người thuộc những trường hợp trên đây vẫn được hưởng di sản là quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc cả nhà và đất, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.
Con không cùng họ với bố có được hưởng di sản thừa kế của bố không?
Như đã phân tích ở trên, việc con mang họ mẹ thay vì họ bố là trường hợp được pháp luật cho phép. Pháp luật không đặt ra quy định bắt buộc con phải mang họ của bố mới được xác lập hoặc thực hiện các quyền dân sự của mình. Do đó, chỉ căn cứ vào việc con không cùng họ với bố thì không thể cho rằng người con mất đi quyền dân sự của mình.
Đối với quyền thừa kế, Điều 609 Bộ luật Dân sự 2015 quy định cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật; đồng thời, Điều 610 quy định mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.
Theo đó, việc “họ” của con là do cha mẹ có thể thỏa thuận lựa chọn họ của mẹ hoặc họ của bố và việc lựa chọn họ phải tuân thủ các điều kiện theo quy định pháp luật. Vì vậy, con không mang họ bố không làm mất đi quyền dân sự của người con, trong đó có quyền thừa kế. Tuy nhiên, để xác định cụ thể con không cùng họ với bố có được hưởng di sản thừa kế của bố hay không, cần xem xét trường hợp người bố chết có để lại di chúc hay không, cũng như nội dung di chúc có định đoạt phần di sản cho người con hay không.
Trường hợp 1: Cha chết và để lại di chúc nhưng không phân định cho con được hưởng di sản
Theo Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015, người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế, truất quyền hưởng di sản của người thừa kế và phân định phần di sản cho từng người thừa kế. Do đó, về nguyên tắc, người lập di chúc có quyền quyết định việc phân chia di sản của mình cho những người được chỉ định trong di chúc.
Tuy nhiên, việc người con không cùng họ với bố không phải là căn cứ để xác định người con có được hưởng di sản hay không. Nếu người con không được cha phân định phần di sản trong di chúc thì cần tiếp tục xem xét người con có thuộc trường hợp “người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc” theo Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 hay không. Cụ thể, khoản 1 Điều 644 quy định con chưa thành niên hoặc con thành niên mà không có khả năng lao động vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ được cho hưởng ít hơn hai phần ba suất đó, trừ các trường hợp pháp luật quy định.
Như vậy, trường hợp cha có để lại di chúc nhưng không cho người con không cùng họ hưởng di sản thì không thể chỉ căn cứ vào việc người con khác họ với cha để kết luận người con không có quyền thừa kế. Nếu người con thuộc trường hợp quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 thì vẫn có quyền hưởng phần di sản mà pháp luật bảo vệ, mặc dù không được cha phân định trong di chúc.
Trường hợp 2: Cha chết và không để lại di chúc
Trường hợp người cha chết không để lại di chúc, việc phân chia di sản được thực hiện theo quy định về thừa kế theo pháp luật. Điều 649 Bộ luật Dân sự 2015 quy định thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định; đồng thời, Điều 651 xác định con đẻ, con nuôi của người chết thuộc hàng thừa kế thứ nhất.
Theo đó, pháp luật xác định người thừa kế theo quan hệ thừa kế và hàng thừa kế, không quy định người con phải mang cùng họ với người cha mới được hưởng thừa kế. Những người thừa kế cùng hàng về nguyên tắc được hưởng phần di sản bằng nhau.
Như vậy, nếu cha chết không để lại di chúc thì người con không cùng họ với cha vẫn có quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật như những người con khác cùng hàng thừa kế, việc mang họ mẹ hay khác họ với cha không làm mất quyền hưởng di sản của người con.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồng, soạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.
VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM
Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh
Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898







