Con cái làm chứng trong di chúc của bố mẹ được không?

98S Trần Đại Nghĩa, Phường Tân Tạo, TP. Hồ Chí Minh
0939 858 898
luatsucncvietnam@gmail.com
Con cái làm chứng trong di chúc của bố mẹ được không?
Ngày đăng: 06/04/2026

    con-cai-lam-chung-trong-di-chuc-cua-bo-me-duoc-khong-1

     

    Trong thực tiễn, khi lập di chúc, nhiều gia đình thường băn khoăn liệu con cái có thể đứng ra làm chứng cho di chúc của bố mẹ hay không, bởi tâm lý cho rằng người thân trong gia đình sẽ thuận tiện và đáng tin cậy hơn. Vậy, liệu con cái có được làm chứng trong di chúc của bố mẹ không? Cùng chúng tôi tìm hiểu về vấn đề này trong bài viết sau đây nhé.

     

    con-cai-lam-chung-trong-di-chuc-cua-bo-me-duoc-khong-2

     

    Những ai được làm chứng trong di chúc của bố mẹ? Con cái làm chứng có được không?

    Căn cứ Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

    - Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.

    - Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

    - Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

    Đồng thời, căn cứ theo Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015, hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Do đó, con cái (bao gồm con đẻ và con nuôi) là người thừa kế theo pháp luật của cha mẹ sẽ không được làm chứng cho di chúc của cha mẹ, dù di chúc đó là dạng văn bản có người làm chứng hay di chúc miệng.

    * Vậy, nếu con cái vẫn ký tên làm chứng trong di chúc thì di chúc đó có giá trị pháp lý không?

    Khi di chúc vi phạm các điều kiện về chủ thể, nội dung hoặc hình thức theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc có thể bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Trong trường hợp con cái ký tên với tư cách là người làm chứng cho việc lập di chúc của cha mẹ, hành vi này vi phạm quy định tại Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2015 về những người không được làm chứng cho việc lập di chúc. Nếu di chúc bị tuyên vô hiệu toàn bộ, thì di sản của người chết sẽ được chia theo quy định về thừa kế theo pháp luật cho những người thuộc hàng thừa kế của người để lại di sản.

    Bố mẹ lập di chúc có cần sự đồng ý của các con hay không?

    Theo Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.

    Từ quy định này có thể thấy, di chúc là văn bản được lập ra khi một người có tài sản và muốn để tài sản của mình cho người khác sau khi người đó chết. Đồng thời, có thể khẳng định, di chúc là ý chí của riêng người để lại tài sản mà không phụ thuộc vào các cá nhân khác.

    Tại Điều 625 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về người lập di chúc như sau:

    “1. Người thành niên có đủ điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 630 của Bộ luật này có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.

    2. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.”

    Theo đó, Bộ luật Dân sự đã khẳng định, người thành niên có toàn quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình. Không chỉ vậy, về quyền của người lập di chúc, Điều 626 BLDS nêu rõ các quyền như sau:

    - Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;

    - Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;

    - Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;

    - Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;

    - Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.

    Đồng thời, trong khi lập di chúc, người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép (căn cứ điểm a khoản 1 Điều 630 BLDS).

    Như vậy, từ các căn cứ trên, có thể thấy cha, mẹ khi lập di chúc có toàn quyền định đoạt tài sản của mình mà không phải phụ thuộc vào bất cứ cá nhân, tổ chức nào, kể cả con cái của người đó.

    Hay nói cách khác, cha, mẹ khi lập di chúc thì không cần phải có sự đồng ý của các con. Việc quyết định ai là người được hưởng di sản thừa kế và hưởng phần di sản thừa kế như thế nào hoàn toàn dựa vào ý chí của chính người lập di chúc là cha hoặc mẹ.

     

    con-cai-lam-chung-trong-di-chuc-cua-bo-me-duoc-khong-3

     

    Những ai không có tên trong di chúc nhưng vẫn được hưởng thừa kế?

    Tại khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc. Cụ thể:

    “1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

    a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

    b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.”

    Theo đó, con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, con thành niên mà không có khả năng lao động của người lập di chúc sẽ được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất thừa kế theo pháp luật nếu không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc cho hưởng phần di sản nhưng ít hơn 2/3 suất thừa kế theo pháp luật.

    Lưu ý: Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản.

    Ví dụ: Vợ chồng ông A, bà B có tài sản chung là nhà đất trị giá 02 tỷ 400 triệu đồng, vì mâu thuẫn với vợ nên ông A trước khi chết đã lập di chúc với nội dung là để toàn bộ di sản cho 01 người con trai (cha, mẹ ông A đã chết).

    Mặc dù không được ông A cho hưởng di sản theo di chúc nhưng bà B vẫn được hưởng vì là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc theo quy định tại Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015. Phần di sản bà B được hưởng như sau:

    - Di sản thừa kế của ông A là 01 tỷ 200 triệu đồng (vì nhà đất là tài sản chung nên chia đôi).

    - Nếu chia thừa kế theo pháp luật thì người thừa kế của ông A thuộc hàng thừa kế thứ nhất là bà B và con trai, mỗi suất thừa kế là 600 triệu đồng. Căn cứ khoản 1 Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 thì bà B được hưởng di sản bằng 2/3 suất thừa kế. Do vậy, dù ông A không cho bà B hưởng di sản theo di chúc nhưng bà B vẫn được hưởng phần di sản thừa kế nhà đất với trị giá là 400 triệu đồng.

     

    THÔNG TIN LIÊN HỆ

    Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồngsoạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.

     

    VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM

    Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh

    Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh

    Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898

    Website: luatsugioisaigon.com.vn

    Danh mục bài viết

    Bài viết mới