
Khi cho vay tiền, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ số tiền đã vay khi đến hạn theo thỏa thuận. Trường hợp đến hạn nhưng bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ, người cho vay có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp và buộc bên vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, khi “Khởi kiện đòi nợ”, người cho vay không phải lúc nào cũng chỉ yêu cầu bên vay trả số tiền gốc. Tùy thuộc vào nội dung thỏa thuận vay, thời hạn trả nợ và tình trạng vi phạm nghĩa vụ của bên vay, người cho vay có thể yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết đối với “tiền gốc, tiền lãi và tiền lãi phát sinh do chậm trả” theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Và để làm rõ vấn đề trên, kính mời anh/chị và các bạn cùng theo dõi bài viết bên dưới của chúng tôi nhé.
Cho vay mà không trả, người cho vay cần làm gì?
Cho vay tiền là một giao dịch dân sự phổ biến, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn, bên vay có nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ số tiền đã vay. Đối với tiền lãi, bên vay chỉ phải trả lãi khi các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Tuy nhiên, trên thực tế không phải trường hợp nào bên vay cũng thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng thời hạn. Có trường hợp người vay thực sự gặp khó khăn về tài chính, nhưng cũng có trường hợp cố tình trì hoãn, né tránh hoặc không thực hiện nghĩa vụ dù đã đến hạn. Khi đó, người cho vay cần lựa chọn phương thức thu hồi nợ phù hợp và đúng quy định pháp luật.
Trước hết, người cho vay có thể chủ động liên hệ, yêu cầu bên vay thanh toán khoản nợ và tiếp tục thương lượng để tìm phương án giải quyết. Việc này có thể được thực hiện thông qua một số hình thức như:
- Liên hệ trực tiếp: Trao đổi với người vay về số tiền còn nợ, thời hạn thanh toán và yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
- Gửi thông báo yêu cầu thanh toán: Lập văn bản hoặc sử dụng hình thức liên lạc phù hợp để thông báo rõ khoản nợ, thời hạn thanh toán và yêu cầu bên vay thực hiện nghĩa vụ.
- Thỏa thuận phương án trả nợ: Trường hợp bên vay chưa có khả năng thanh toán một lần, các bên có thể thống nhất về thời hạn trả nợ, số tiền thanh toán từng lần hoặc phương thức thanh toán khác.
Trong quá trình thu hồi nợ, người cho vay cần tránh sử dụng vũ lực, đe dọa, xúc phạm, tạt sơn, khủng bố tinh thần hoặc thuê người khác thực hiện các hành vi trái pháp luật để ép bên vay trả tiền. Việc bên vay không trả nợ không đồng nghĩa với việc người cho vay được tự ý sử dụng mọi biện pháp để thu hồi khoản tiền của mình. Tùy tính chất, mức độ, hành vi đòi nợ trái pháp luật có thể dẫn đến trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc thậm chí trách nhiệm hình sự.
Trường hợp đã yêu cầu và thương lượng nhưng bên vay vẫn cố tình không trả nợ, né tránh nghĩa vụ hoặc không hợp tác, người cho vay có quyền sử dụng các phương thức pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Nếu có dấu hiệu của hành vi vi phạm pháp luật hình sự, người cho vay có thể trình báo, tố giác đến cơ quan có thẩm quyền để được xem xét, giải quyết theo quy định.
Đối với tranh chấp về nghĩa vụ trả nợ phát sinh từ hợp đồng vay tài sản, người cho vay có thể khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền, yêu cầu bên vay thanh toán khoản tiền gốc còn thiếu, tiền lãi và các khoản khác nếu có căn cứ pháp luật. Đây là phương thức giải quyết tranh chấp theo thủ tục tố tụng dân sự, đặc biệt được đặt ra khi bên vay không tự nguyện thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
Người cho vay có thể khởi kiện tại Tòa án để đòi những khoản tiền nào?
Khi bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, người cho vay có quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu bên vay thanh toán khoản tiền còn nợ. Tuy nhiên, số tiền có thể yêu cầu Tòa án giải quyết sẽ phụ thuộc vào hợp đồng vay có kỳ hạn hay không có kỳ hạn, có thỏa thuận về lãi suất hay không và thời điểm bên vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Trường hợp 1: Hợp đồng vay không kỳ hạn
Theo Điều 469 Bộ luật Dân sự 2015, đối với khoản vay không kỳ hạn, bên cho vay có quyền yêu cầu bên vay trả lại tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo trước trong một thời gian hợp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
- Nếu vay không kỳ hạn và không có lãi: Người cho vay có quyền yêu cầu bên vay hoàn trả đầy đủ tiền gốc. Nếu sau khi được yêu cầu mà bên vay vẫn không trả hoặc trả không đầy đủ thì người cho vay có thể yêu cầu Tòa án giải quyết, đồng thời yêu cầu tính lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định.
- Nếu vay không kỳ hạn và có lãi: Người cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý.
Trường hợp 2: Hợp đồng vay có kỳ hạn
Đối với khoản vay có kỳ hạn, bên vay phải hoàn trả tiền khi đến hạn theo thỏa thuận. Nếu đến hạn mà bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì người cho vay có quyền khởi kiện để yêu cầu thanh toán các khoản tiền còn thiếu.
- Nếu vay có kỳ hạn và không có lãi: Người cho vay có thể yêu cầu Tòa án buộc bên vay trả đầy đủ tiền gốc. Nếu đã đến hạn nhưng bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì có quyền yêu cầu tiền lãi trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo khoản 4 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
- Nếu vay có kỳ hạn và có lãi: Người cho vay có thể yêu cầu bên vay thanh toán tiền gốc, tiền lãi trong thời hạn vay và tiền lãi phát sinh do chậm trả. Cụ thể, theo khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015, bên vay phải trả lãi trên nợ gốc theo mức lãi suất đã thỏa thuận tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; nếu chậm trả thì còn phải trả lãi theo khoản 2 Điều 468. Đối với nợ gốc quá hạn chưa trả, bên vay phải trả lãi bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Lưu ý về mức lãi suất khi khởi kiện
Theo khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng về nguyên tắc không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Nếu các bên thỏa thuận mức lãi suất vượt quá giới hạn này thì phần lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
Trường hợp có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định rõ mức lãi suất và phát sinh tranh chấp thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều 468 tại thời điểm trả nợ.
Như vậy, khi khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản, người cho vay cần xác định rõ khoản vay có kỳ hạn hay không, có thỏa thuận về lãi suất hay không, thời điểm phát sinh nghĩa vụ trả nợ và thời gian bên vay chậm thanh toán. Đây là những căn cứ để xác định số tiền gốc, tiền lãi và tiền lãi do chậm trả mà người cho vay có quyền yêu cầu Tòa án buộc bên vay thanh toán.
Khi khởi kiện đòi tiền vay cần chứng minh những gì?
Khi khởi kiện yêu cầu trả tiền vay, người cho vay cần cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh có tồn tại quan hệ vay tài sản, số tiền đã cho vay, thỏa thuận giữa các bên và việc bên vay chưa thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ. Việc có đầy đủ chứng cứ sẽ giúp Tòa án có cơ sở xác định quyền, nghĩa vụ của các bên và giải quyết yêu cầu khởi kiện. Người cho vay nên chuẩn bị và chứng minh các nội dung chính sau:
Thứ nhất, chứng minh có việc cho vay tiền.
Người cho vay cần chứng minh số tiền đã thực tế giao cho bên vay. Chứng cứ có thể là giấy vay tiền, hợp đồng vay, biên nhận, giấy xác nhận nợ, chứng từ chuyển khoản, sao kê tài khoản, tin nhắn hoặc các tài liệu khác thể hiện việc giao nhận tiền.
Trường hợp các bên không lập giấy vay tiền bằng văn bản thì quan hệ vay vẫn có thể được chứng minh bằng những tài liệu, chứng cứ khác nếu có căn cứ xác định việc giao tiền và nhận tiền thực tế.
Thứ hai, chứng minh thời hạn và nghĩa vụ trả nợ.
Nếu khoản vay có kỳ hạn, cần chứng minh thời điểm bên vay phải trả nợ theo thỏa thuận. Đối với khoản vay không kỳ hạn, cần chứng minh việc người cho vay đã yêu cầu bên vay trả nợ và đã thông báo trước trong một thời gian hợp lý theo quy định pháp luật.
Đây cũng là căn cứ quan trọng để xác định bên vay đã phát sinh hành vi chậm thực hiện nghĩa vụ và thời điểm tính lãi do chậm trả, nếu có.
Thứ ba, chứng minh thỏa thuận về lãi suất, nếu có.
Nếu các bên có thỏa thuận về lãi suất, người cho vay cần cung cấp tài liệu thể hiện mức lãi suất, thời gian tính lãi và phương thức trả lãi. Trường hợp không có thỏa thuận về lãi suất thì người cho vay cần xác định yêu cầu về tiền lãi theo đúng quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ngoài ra, người cho vay cũng cần lưu ý rằng không phải mọi nội dung ghi nhận trong giấy vay hoặc thỏa thuận giữa các bên đều đương nhiên được Tòa án chấp nhận. Khi giải quyết vụ án, Tòa án sẽ xem xét tính hợp pháp của giao dịch, nội dung thỏa thuận và các chứng cứ do các bên cung cấp để xác định nghĩa vụ trả nợ.
Do đó, trước khi khởi kiện, người cho vay nên tập hợp đầy đủ giấy tờ, chứng từ giao nhận tiền, lịch sử chuyển khoản, tin nhắn trao đổi về khoản vay và các tài liệu thể hiện việc yêu cầu trả nợ. Đây là cơ sở quan trọng để chứng minh yêu cầu khởi kiện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án.
Thời hiệu khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản là bao lâu?
Theo Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả tài sản cùng loại đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Đối với tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vay tài sản, cần phân biệt thời hiệu khởi kiện đối với tranh chấp hợp đồng và yêu cầu đòi lại tiền gốc với tư cách bảo vệ quyền sở hữu.
Theo Điều 429 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Đối với hợp đồng vay tài sản, thời điểm này về nguyên tắc được xác định từ khi nghĩa vụ trả nợ đến hạn nhưng bên vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ. Tuy nhiên, hết thời hạn 03 năm không đồng nghĩa với việc người cho vay đương nhiên mất quyền yêu cầu Tòa án giải quyết khoản tiền gốc.
Theo khoản 2 Điều 155 Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện không áp dụng đối với yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự hoặc luật khác có liên quan quy định khác. Đồng thời, Điều 464 Bộ luật Dân sự 2015 quy định bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay kể từ thời điểm nhận tài sản. Trong thực tiễn xét xử, có trường hợp Tòa án xác định yêu cầu đòi lại tiền vốn vay thuộc trường hợp bảo vệ quyền sở hữu nên không áp dụng thời hiệu khởi kiện đối với khoản tiền gốc.
Do đó, khi giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản, cần xem xét bản chất và phạm vi yêu cầu khởi kiện. Người cho vay có thể yêu cầu Tòa án giải quyết khoản tiền gốc theo hướng bảo vệ quyền sở hữu; trong khi các yêu cầu phát sinh từ quan hệ hợp đồng như tiền lãi hoặc các nghĩa vụ khác có thể phải xem xét theo quy định về thời hiệu khởi kiện hợp đồng.
Ngoài ra, theo Điều 149 Bộ luật Dân sự 2015, Tòa án chỉ áp dụng thời hiệu theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, với điều kiện yêu cầu này được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án. Vì vậy, việc xác định một yêu cầu đã hết thời hiệu hay chưa không chỉ phụ thuộc vào việc đã quá 03 năm kể từ thời điểm quyền lợi bị xâm phạm mà còn phụ thuộc vào loại yêu cầu khởi kiện và việc bên có quyền yêu cầu áp dụng thời hiệu hay không.
Như vậy, đối với tranh chấp hợp đồng vay tài sản, người cho vay không nên hiểu đơn giản rằng cứ quá 03 năm kể từ ngày đến hạn trả nợ thì sẽ mất quyền đòi tiền. Cần xác định cụ thể khoản tiền đang yêu cầu là tiền gốc hay tiền lãi, yêu cầu được đặt trên cơ sở quan hệ hợp đồng hay bảo vệ quyền sở hữu, từ đó xác định chính xác quy định về thời hiệu được áp dụng.

Anh/chị và các bạn có thể theo dõi “Trình tự, thủ tục khởi kiện hợp đồng vay”.
Trên thực tế, việc xác định quyền yêu cầu, số tiền được yêu cầu thanh toán, tiền lãi và thời hiệu khởi kiện trong tranh chấp hợp đồng vay tài sản còn phụ thuộc vào nội dung thỏa thuận và các tài liệu, chứng cứ của từng vụ việc. Vì vậy, nếu đang gặp khó khăn trong việc thu hồi khoản tiền cho vay hoặc cần khởi kiện yêu cầu bên vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bạn có thể liên hệ chúng tôi qua số điện thoại 0909 642 658 hoặc 0939 858 898 để được luật sư tư vấn, đánh giá hồ sơ và hướng dẫn phương án giải quyết phù hợp theo quy định pháp luật.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồng, soạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.
VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM
Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh
Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898
Website: luatsugioisaigon.com.vn







