Trong thực tế, cha mẹ có thể được giao quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên, trong đó có quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, việc quản lý tài sản không đồng nghĩa với việc cha, mẹ trở thành chủ sở hữu đối với tài sản của con. Vậy trong trường hợp người cha/mẹ đang được giao quản lý thửa đất là tài sản riêng của con nhưng đột ngột qua đời khi người con mới 14 tuổi, thửa đất này có được xác định là di sản thừa kế của người cha/mẹ hay không? Ai sẽ tiếp tục quản lý tài sản của người con và quyền, lợi ích của người con chưa thành niên được bảo đảm như thế nào? Đây là vấn đề cần được xem xét dựa trên quy định của pháp luật về tài sản riêng của con chưa thành niên, quyền quản lý tài sản của cha mẹ và các quy định về thừa kế. Việc xác định đúng bản chất pháp lý của thửa đất sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc tránh nhầm lẫn giữa tài sản thuộc quyền sở hữu của người con với di sản của người cha để lại. Hãy cùng theo dõi bài viết bên dưới của chúng tôi để làm rõ vấn đề trên nhé.

Con chưa thành niên có quyền có tài sản riêng không?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 75 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định: “1. Con có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của con bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của con và thu nhập hợp pháp khác. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của con cũng là tài sản riêng của con.”
Như vậy, pháp luật không giới hạn quyền có tài sản riêng của con theo độ tuổi hoặc tình trạng năng lực hành vi dân sự. Do đó, con chưa thành niên vẫn có quyền có tài sản riêng và tài sản riêng này được pháp luật bảo vệ. Tài sản riêng của con có thể bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động của con, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng, thu nhập hợp pháp khác và tài sản được hình thành từ chính tài sản riêng của con.
Đồng thời, cần phân biệt rõ quyền có tài sản riêng với khả năng tự mình xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó. Việc con chưa thành niên có thể bị hạn chế về năng lực hành vi dân sự hoặc cần có người đại diện khi xác lập, thực hiện một số giao dịch không làm mất đi quyền sở hữu đối với tài sản riêng của mình. Nói cách khác, con chưa thành niên vẫn có thể là chủ thể có tài sản riêng, dù việc quản lý, sử dụng hoặc định đoạt tài sản đó có thể phải được thực hiện thông qua cha, mẹ hoặc người đại diện theo quy định pháp luật..
Pháp luật quy định như thế nào về việc quản lý và định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên?
- Quyền quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên:
Quản lý tài sản riêng của con được quy định tại Điều 76 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, theo đó:
“1. Con từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tự mình quản lý tài sản riêng hoặc nhờ cha mẹ quản lý.
2. Tài sản riêng của con dưới 15 tuổi, con mất năng lực hành vi dân sự do cha mẹ quản lý. Cha mẹ có thể ủy quyền cho người khác quản lý tài sản riêng của con. Tài sản riêng của con do cha mẹ hoặc người khác quản lý được giao lại cho con khi con từ đủ 15 tuổi trở lên hoặc khi con khôi phục năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp cha mẹ và con có thỏa thuận khác.
3. Cha mẹ không quản lý tài sản riêng của con trong trường hợp con đang được người khác giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự; người tặng cho tài sản hoặc để lại tài sản thừa kế theo di chúc cho người con đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
4. Trong trường hợp cha mẹ đang quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự mà con được giao cho người khác giám hộ thì tài sản riêng của con được giao lại cho người giám hộ quản lý theo quy định của Bộ luật dân sự.”
Như vậy, cha mẹ không đương nhiên là người quản lý tài sản riêng của con trong mọi trường hợp. Đối với con dưới 15 tuổi, về nguyên tắc tài sản riêng do cha mẹ quản lý. Tuy nhiên, pháp luật đồng thời quy định những trường hợp cha mẹ không thực hiện quyền quản lý, chẳng hạn như khi con đang được người khác giám hộ theo quy định của Bộ luật Dân sự hoặc khi người tặng cho tài sản, người để lại di sản theo di chúc đã chỉ định người khác quản lý tài sản đó. Do đó, quyền quản lý tài sản riêng của con phải được xác định căn cứ vào độ tuổi, tình trạng năng lực hành vi dân sự của người con và các trường hợp quản lý tài sản được pháp luật quy định. Trong trường hợp cha mẹ được quản lý tài sản riêng của con thì đây là quyền quản lý đối với tài sản thuộc về người con, không làm phát sinh quyền sở hữu của cha mẹ đối với tài sản đó.
Ngoài ra, khi con được hưởng di sản thừa kế theo di chúc mà người để lại di sản đã chỉ định người khác quản lý tài sản thì cha mẹ cũng không thực hiện việc quản lý tài sản đó. Trường hợp này, người được chỉ định quản lý sẽ thực hiện việc quản lý tài sản theo nội dung di chúc và quy định của pháp luật.
Như vậy, cần phân biệt rõ người có quyền đối với tài sản và người trực tiếp quản lý tài sản. Việc cha, mẹ đang quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên chỉ thể hiện vai trò quản lý tài sản theo quy định của pháp luật, không làm thay đổi chủ thể có quyền đối với tài sản. Đây cũng là cơ sở quan trọng để xác định cách xử lý tài sản trong trường hợp cha hoặc mẹ đang quản lý tài sản riêng của con nhưng qua đời.
- Cha mẹ là người quản lý tài sản của con chưa thành niên thì có được quyền định đoạt tài sản đó hay không?
Định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên được quy định tại Điều 77 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Theo đó, trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ đang quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản vì lợi ích của con; nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Đối với con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, con có quyền tự mình định đoạt tài sản riêng. Riêng trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc tài sản được dùng để kinh doanh thì việc định đoạt phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ.
Như vậy, cha mẹ là người quản lý tài sản riêng của con không đồng nghĩa với việc được toàn quyền định đoạt tài sản đó theo ý chí của mình. Đối với tài sản của con dưới 15 tuổi, quyền định đoạt của cha mẹ bị giới hạn bởi điều kiện phải vì lợi ích của người con; đồng thời, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Do đó, cần phân biệt rõ giữa quyền quản lý, quyền định đoạt và quyền sở hữu tài sản. Việc cha mẹ được pháp luật cho phép quản lý hoặc định đoạt tài sản trong những trường hợp nhất định không làm thay đổi việc tài sản vẫn thuộc về người con. Đây cũng là cơ sở để xác định rằng khi cha hoặc mẹ chết, tài sản riêng của con mà cha hoặc mẹ đang quản lý không đương nhiên trở thành di sản thừa kế của người chết.
Cha/mẹ chết khi đang quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên, tài sản xử lý thế nào?
Như phân tích ở trên, con có quyền có tài sản riêng. Tài sản riêng của con có thể bao gồm tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng, thu nhập do lao động, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và các khoản thu nhập hợp pháp khác. Đối với con dưới 15 tuổi, khoản 2 Điều 76 Luật này quy định tài sản riêng của con do cha mẹ quản lý, trừ những trường hợp pháp luật có quy định khác. Như vậy, việc cha, mẹ quản lý tài sản riêng của con chỉ là việc thực hiện quyền quản lý đối với tài sản thuộc về người con, không làm phát sinh quyền sở hữu của cha, mẹ đối với tài sản đó. Đây là vấn đề cần được xác định rõ khi cha hoặc mẹ chết trong thời gian đang quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên.
Đồng thời, tại Điều 612 Bộ luật Dân sự 2015, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Do đó, để một tài sản được xác định là di sản thừa kế thì trước hết phải xác định tài sản đó thuộc quyền của người chết tại thời điểm mở thừa kế.
Trường hợp thửa đất đã được xác định là tài sản riêng của người con, còn cha hoặc mẹ chỉ là người được giao quản lý thì khi cha hoặc mẹ chết, thửa đất này không trở thành di sản thừa kế của cha, mẹ. Những người thuộc hàng thừa kế của cha, mẹ không thể yêu cầu chia thừa kế đối với thửa đất chỉ vì người chết trước đó là người trực tiếp quản lý tài sản. Khi đó, vấn đề cần giải quyết là xác định người tiếp tục quản lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người con đối với tài sản.
Nếu cha hoặc mẹ chết nhưng người còn lại vẫn còn sống và có đầy đủ điều kiện thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với con thì cần xem xét vai trò của người còn lại trong việc đại diện và quản lý tài sản riêng của con. Điều 136 Bộ luật Dân sự 2015 xác định cha, mẹ là người đại diện theo pháp luật của con chưa thành niên.
Trường hợp cả cha và mẹ đều chết hoặc không còn người đại diện theo pháp luật thì người con chưa thành niên thuộc trường hợp được giám hộ theo Điều 47 Bộ luật Dân sự 2015. Khi đó, cần xác định người giám hộ theo quy định của Bộ luật Dân sự để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người con, trong đó có việc quản lý tài sản của người con.
Đặc biệt, cần phân biệt tài sản riêng của người con với di sản của cha, mẹ. Việc cha, mẹ đang quản lý tài sản của con không làm cho tài sản đó trở thành tài sản của cha, mẹ; do đó, cái thay đổi sau khi cha, mẹ chết là chủ thể thực hiện việc quản lý, đại diện hoặc giám hộ, chứ không phải quyền đối với tài sản của người con.
Vì vậy, trong trường hợp cha hoặc mẹ chết khi đang quản lý tài sản riêng của con chưa thành niên, cần căn cứ vào nguồn gốc tài sản, bản án, quyết định của Tòa án, giấy tờ xác lập quyền đối với tài sản và tình trạng đại diện, giám hộ của người con để xác định cách xử lý. Nếu có đủ căn cứ xác định tài sản thuộc riêng về người con thì không có cơ sở đưa tài sản đó vào khối di sản để chia thừa kế của cha hoặc mẹ.
THÔNG TIN LIÊN HỆ
Sau khi tham khảo bài viết của Luật CNC Việt Nam, Luật sư giỏi Việt Nam, Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh nếu Quý khách hàng còn vấn đề nào chưa rõ thì hãy liên hệ với chúng tôi theo thông tin dưới đây để được tư vấn chi tiết hơn. Ngoài ra, nếu khách hàng cần tư vấn về các vấn đề pháp lý khác như xin các loại giấy phép, soạn thảo các loại hợp đồng lao động, dân sự, rà soát hợp đồng, soạn thảo các loại đơn từ, soạn hồ sơ khởi kiện, lập di chúc, khai nhận di sản thừa kế, đăng ký biến động đất đai,… thì cũng đừng ngại liên hệ với Luật sư giỏi Sài Gòn, Luật sư giỏi Thành phố Hồ Chí Minh, Luật sư giỏi thừa kế nhà đất để được giải đáp mọi thắc mắc.
VĂN PHÒNG GIAO DỊCH CÔNG TY LUẬT TNHH CNC VIỆT NAM
Trụ sở: Tầng 2-2A1 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Sài Gòn,Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 1: 98S Trần Đại Nghĩa, phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh
Văn phòng 2: 1084 Lê Văn Lương, Ấp 3, xã Nhơn Đức, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh
Số điện thoại: 0909 642 658 - 0939 858 898







